Đảm bảo an toàn lao động: Cần sự hợp tác từ nhiều phía

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có khoảng trên 3.000 doanh nghiệp tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh với nhiều quy mô khác nhau. Trong đó các oanh nghiệp tham gia trong các ngành nghề có tính chất nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm như khai thác than, xi măng, sang chiết gas, xăng dầu… chiếm tỷ lệ khá lớn.

Công tác đảm bảo an toàn lao động trong hầm lò luôn được lãnh đạo Công ty Than Vàng Danh quan tâm, đôn đốc kiểm tra thường xuyên.

Công tác đảm bảo an toàn lao động trong hầm lò luôn được lãnh đạo Công ty Than Vàng Danh quan tâm, đôn đốc kiểm tra thường xuyên.

Đây cũng là các đơn vị có số lượng đông đảo công nhân trực tiếp tham gia sản xuất được đưa vào diện có nguy cơ cao về mất an toàn lao động. Chính vì vậy, vấn đề an toàn lao động (ATLĐ) ngày càng được các doanh nghiệp quan tâm và thực hiện đầy đủ hơn. Tại các doanh nghiệp lớn đều xây dựng kế hoạch hàng năm và phân công trách nhiệm thực hiện về an toàn vệ sinh lao động và phòng chống cháy nổ (AT VSLĐ-PCCN). Nhiều doanh nghiệp đã có chế độ bồi dưỡng phù hợp đối với những người làm công việc nặng nhọc, độc hại nguy hiểm. Trên nhiều công trường, ở nhiều nhà máy, những khẩu hiệu về ATLĐ luôn luôn thường trực để nâng cao ý thức cảnh giác cho người lao động. Thế nhưng, đến nay Quảng Ninh vẫn là một trong những tỉnh có số vụ TNLĐ chết người ở mức cao trong cả nước. Vậy nguyên nhân là do đâu?

Tai nạn lao động: Giảm song vẫn ở mức cao!

Theo đánh giá của Sở LĐ-TB&XH qua các năm số vụ tai nạn lao động gây chết người  đã có xu hướng giảm song thật sự chưa ổn định, bền vững, vẫn còn tiềm ẩn rất nhiều nguy cơ xảy ra TNLĐ, đặc biệt là các vụ TNLĐ có tính chất “thảm hoạ” như cháy nổ khí, bục nước, bục bùn, sập đổ lò trên diện rộng… Tính từ đầu năm đến nay (15-11-2009), tại các doanh nghiệp trên địa bàn đã xảy ra 24 vụ TNLĐ, làm chết 27 người. So với cùng kỳ năm 2008, số vụ TNLĐ chết người đã giảm 3 vụ, số người chết giảm 1 người. Còn nếu so sánh những con số này với thời điểm cách đây 3, 4 năm thì tỷ lệ số vụ TNLĐ gây chết người và số người chết đã giảm hơn 30% về số vụ và giảm từ 40-50% về số người chết. Điều này cho thấy công tác đảm bảo ATLĐ trong các đơn vị đã có sự quan tâm, thay đổi nhất định, góp phần hạn chế đáng kể số vụ TNLĐ chết người và giảm thiểu số người chết trong các vụ. Tuy nhiên, với đặc thù địa phương ngày càng có nhiều doanh nghiệp tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh trong các lĩnh vực tiềm ẩn nhiều nguy cơ mất ATLĐ như ở tỉnh ta thì việc kiểm soát dẫn đến ngăn chặn hoàn toàn TNLĐ gây ra chết người gần như là một bài toán chưa thể nào giải được của các doanh nghiệp.

Công tác đảm bảo an toàn lao động trong sản xuất luôn được Công ty Đóng tàu Hạ Long đặt lên hàng đầu.

Công tác đảm bảo an toàn lao động trong sản xuất luôn được Công ty Đóng tàu Hạ Long đặt lên hàng đầu.

Đối với ngành Than, một trong những ngành tiềm ẩn nhiều nguy cơ mất ATLĐ gây ra chết người nhất hiện nay thì mục tiêu an toàn luôn được coi là ưu tiên số 1. Với mục tiêu đó, những năm qua Tập đoàn công nghiệp Than -Khoáng sản Việt Nam (TKV) và các đơn vị thành viên đã triển khai nhiều biện pháp nhằm đảm bảo ATLĐ như: Đầu tư công nghệ mới trong sản xuất, trang bị thiết bị an toàn hiện đại; thành lập hệ thống giám sát an toàn cho tất cả các lĩnh vực; ban hành các quy chế quản lý công tác AT-BHLĐ; quy định về xử lý người đứng đầu doanh nghiệp khi đơn vị để xảy ra TNLĐ chết nhiều người; phân định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn trong công tác quản lý AT-BHLĐ… Chính vì vậy, mặc dù sản lượng khai thác than trong các đơn vị ngày một tăng, song số vụ TNLĐ gây chết người đã được kiềm chế. Từ đầu năm đến nay, trong ngành đã xảy ra 17 vụ TNLĐ chết người, làm chết 20 người (giảm 4 vụ và giảm 1 người chết so với cùng kỳ năm 2008). Thế nhưng, với đặc thù công việc khai thác trực tiếp nơi hầm lò của mình, công nhân lao động ngành Than vẫn là đối tượng phải gánh chịu nhiều hậu quả nhất từ mất ATLĐ trong hầm lò (chiếm trên 30% số vụ TNLĐ trong các đơn vị nói chung). Gần đây nhất là sự cố bục nước trong lò tại Xí nghiệp than Thành Công (Công ty Than Hòn Gai) đã làm thiệt mạng 4 người. Bên cạnh đó, đối với các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực như khai thác đá, xi măng, sản xuất điện, sang chiết xăng, dầu, gas… qua các năm, số vụ TNLĐ vẫn có mức rất cao.

Những bài học không bao giờ cũ

Qua tổng hợp đánh giá của các cơ quan chức năng thì đa phần các vụ TNLĐ kể trên là do các nguyên nhân như: Người lao động chưa có tác phong công nghiệp, chưa tuân thủ nghiêm túc các quy trình, quy phạm an toàn. Chưa ý thức được mức độ nguy hiểm trong khi làm việc, chủ quan tuỳ tiện trong thao tác, làm việc không đúng quy định. Vấn đề hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, tự kiểm tra về AT-VSLĐ ở nhiều đơn vị còn hạn chế, mang tính hình thức, thiếu sâu sát, không phát hiện được các vi phạm hoặc có nhưng xử lý chưa nghiêm túc, chưa có tính răn đe. Cùng với đó là nhận thức, ý thức, trách nhiệm của chủ doanh nghiệp về công tác ATLĐ nói chung chưa đồng đều, còn yếu. Công tác tuyên truyền, giáo dục, huấn luyện đảm bảo ATLĐ ở một số đơn vị chưa thường xuyên, có nơi còn mang tính hình thức, hiệu quả chưa cao, kết quả là người lao động chưa nhận thức đầy đủ về công tác AT-VSLĐ (80-85% số vụ TNLĐ là do lỗi chủ quan của người lao động mặc dù đã qua huấn luyện song vẫn vi phạm). Ngoài những tồn tại trên thì công tác quản lý nhà nước về ATLĐ thời gian qua tuy có những thay đổi theo chiều hướng tích cực, giảm dần số vụ TNLĐ gây chết người qua các năm song không thể phủ nhận còn có một số mặt yếu trong công tác, thiếu sự quan tâm của cấp uỷ chính quyền tại một số địa phương…

Những nguyên nhân trên phần nào đã cho thấy, đảm bảo ATLĐ không chỉ cần những máy móc, công cụ hỗ trợ tinh vi hiện đại mà quan trọng nhất vẫn là ý thức của người tham gia lao động cũng như người sử dụng lao động trong vấn đề này. Bởi, chỉ một sơ suất nhỏ, một hành động dù là vô tình, không tuân thủ (hoặc bỏ qua) quy trình sản xuất của người lao động cũng có thể dẫn đến hậu quả thật tai hại không những về tài sản doanh nghiệp mà còn có thể phải trả giá bằng mạng sống của chính bản thân người lao động. Những tai nạn thương tâm về mất ATLĐ mà chúng ta hàng ngày đã và đang tận mắt chứng kiến chính là những bài học nhãn tiền và chẳng bao giờ cũ cho bất cứ người lao động hay doanh nghiệp nào. Như vậy, để đảm bảo ATLĐ cho người lao động thì vấn đề công tác ATVSLĐ ở cơ sở hiện nay cần phải đi vào thực chất hơn nữa. Doanh nghiệp càng lớn cũng đồng nghĩa với vấn đề đảm bảo quy trình ATLĐ càng cần cẩn trọng, chặt chẽ hơn.

Cùng chuyên mục