Với chức năng nhiệm vụ của mình, các cấp Công đoàn trên địa bàn tỉnh đã đặc biệt coi trọng việc tham gia cùng chuyên môn thực hiện những giải pháp nâng cao nhận thức an toàn, vệ sinh lao động (AT-VSLĐ) cho CBCNVC-LĐ.
Qua đó việc thực hiện các quy định pháp luật về công tác AT-VSLĐ đã có sự chuyển biến tích cực trong một số lĩnh vực: tổ chức bộ máy; công tác xây dựng kế hoạch Bảo hộ lao động (BHLĐ); công tác tuyên truyền, huấn luyện AT-VSLĐ; công tác tự kiểm tra về AT-VSLĐ; công tác đầu tư, đổi mới công nghệ, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật; chăm lo, cải thiện điều kiện lao động đã được các doanh nghiệp quan tâm. Các chế độ, chính sách đối với người lao động như: thời giờ làm việc, nghỉ ngơi; chế độ ăn định lượng, bồi dưỡng bằng hiện vật; trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân; khám sức khoẻ định kỳ, khám phát hiện bệnh nghề nghiệp (BNN); bồi thường, trợ cấp TNLĐ, BNN đã được triển khai thực hiện đảm bảo theo quy định của pháp luật...
Hệ thống quản lý khí mỏ tự động được trang bị tại các công ty khai thác than hầm lò góp phần không nhỏ trong việc phòng ngừa các sự cố do khí gây ra dẫn đến TNLĐ nghiêm trọng. Trong ảnh: Trung tâm điều hành quản lý khí mỏ tập trung tại Công ty CP Than Mông Dương - TKV.
Tuy nhiên nhận thức, ý thức và trách nhiệm của các chủ doanh nghiệp về công tác AT-VSLĐ chưa đồng đều và còn yếu tại đa số các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, cơ sở sản xuất tư nhân nên công tác AT-VSLĐ tại các cơ sở này chưa được quan tâm đúng mức (xem nhẹ công tác AT-VSLĐ; không lập và thực hiện kế hoạch BHLĐ hằng năm; né tránh hoặc đầu tư, mua sắm không đầy đủ trang thiết bị, phương tiện bảo vệ cá nhân; điều kiện môi trường làm việc, các chế độ chính sách của người lao động không đảm bảo). Công tác tuyên truyền giáo dục, huấn luyện, phổ biến các qui định pháp luật về an toàn lao động ở một số đơn vị còn yếu, chưa thường xuyên, chưa hiệu quả, có chỗ có nơi còn mang tính hình thức (nhất là ở các cấp công trường, phân xưởng, tổ sản xuất). Công tác kiểm tra giám sát, tự kiểm tra về an toàn lao động còn hạn chế, mang tính hình thức, thiếu sâu sát, không phát hiện được các vi phạm hoặc có nhưng xử lý chưa nghiêm túc, thiếu kiên quyết. Người lao động chưa có tác phong công nghiệp; chưa tuân thủ nghiêm túc quy trình, quy phạm an toàn; chưa ý thức được mức độ nguy hiểm trong khi làm việc, chủ quan, tuỳ tiện trong thao tác, làm việc không đúng quy định thiếu ý thức tự bảo vệ mình và bảo vệ đồng đội.
Có thể thấy rằng để hạn chế, ngăn chặn TNLĐ và sự cố xảy ra đến mức thấp nhất, hằng năm các cơ quan chức năng đã đề ra rất nhiều giải pháp cụ thể, chi tiết, tuy nhiên tình hình TNLĐ vẫn hết sức phức tạp, trong năm 2009 trên địa bàn tỉnh xảy ra 370 vụ tai nạn lao động làm 382 người bị nạn; trong đó có 27 vụ tai nạn lao động chết người làm 30 người thiệt mạng (đứng thứ 3 trong toàn quốc) riêng các doanh nghiệp thuộc TKV đứng chân trên địa bàn tỉnh xảy ra 20 vụ làm chết 23 người. Do đó với vai trò và chức năng của mình, các cấp Công đoàn phải phân định rõ trách nhiệm giữa công đoàn với chính quyền và chuyên môn đồng cấp trong công tác an toàn; tiếp tục chủ động hơn nữa trong phối hợp bổ sung, rà soát, và xây dựng mới các văn bản pháp luật quy định về công tác AT-VSLĐ trong những công đoạn sản xuất. Tập trung tuyên truyền để làm chuyển biến mạnh mẽ ý thức của người lao động và cả người sử dụng lao động; xây dựng ý thức tự giác kèm theo các biện pháp hành chính cần thiết để buộc mọi người có thái độ nghiêm túc trong việc chấp hành các quy định về AT-VSLĐ.
Đẩy mạnh khâu kiểm tra lao động và các phong trào thi đua ở cơ sở, tiến hành triển khai các biện pháp đảm bảo an toàn, nhất là trong các đường lò, khu vực khai thác lộ thiên, hệ thống đường vận tải, công trình xây dựng, nhà xưởng và hệ thống truyền tải điện. Trong quá trình kiểm tra cần phải xây dựng rõ nội dung kiểm tra cho từng đối tượng và gắn kết nhiều hình thức kiểm tra như: kiểm tra độc lập; kiểm tra chéo; kiểm tra có chấm điểm; kiểm tra chuyên đề... Kiểm tra và đề nghị người sử dụng lao động chấm dứt ngay tình trạng bố trí người lao động không đáp ứng tiêu chuẩn nghề và bố trí cán bộ không đủ trình độ quản lý vào công tác chỉ huy sản xuất trong các công trường phân xưởng. Kiện toàn lại đội ngũ cán bộ chuyên trách, bán chuyên trách làm công tác AT-VSLĐ và mạng lưới ATVSV đồng thời chủ động biên soạn những tài liệu liên quan thành những cẩm nang ngắn, gọn phát hành rộng rãi trong các đơn vị để người lao động dễ nhận biết những thông tin.
Đảm bảo cho người lao động “An toàn và sức khoẻ tại nơi làm việc - một trong những quyền lợi cơ bản của người lao động” qua đó không làm việc khi có nguy cơ xảy ra mất an toàn; mình phải biết tự bảo vệ mình, bảo vệ đồng đội; không hiểu thì hỏi; không biết không làm; tuân thủ đúng các quy định đề ra. Cùng với đó tham gia vào việc xây dựng thiết kế thi công kèm theo quy trình, biện pháp kỹ thuật an toàn chi tiết, cụ thể, phù hợp với điều kiện thực tế của vị trí khai thác đối với từng công việc cho người lao động; khi hướng dẫn cho những người liên quan thực hiện phải đơn giản minh bạch, không dùng từ ngữ văn hoa khó hiểu, thể hiện bằng những việc làm cụ thể, con số rõ ràng; ban hành những quy định cụ thể trong việc theo dõi, cập nhật, báo cáo tình hình địa chất khu vực để có biện pháp xử lý kịp thời những biến động nhằm ngăn chặn các sự cố gây tai nạn.