Chỉ sau hơn 6 năm tái lập, huyện Đầm Hà đã có những bước tiến khá vững chắc, hệ thống cơ sở hạ tầng ngày càng được hoàn thiện; cơ cấu kinh tế được chuyển đổi ngày càng đa dạng, bộ mặt nông thôn miền núi của huyện được “thay da, đổi thịt” từng ngày. Đó là kết quả của việc tranh thủ các nguồn vốn đầu tư, kết hợp với phát huy nội lực, chuyển đổi cơ cấu kinh tế địa phương một cách hiệu quả.
Thời gian đầu sau tái lập, huyện gặp bộn bề khó khăn, thử thách. Đáng chú ý nhất là xuất phát điểm của huyện thấp về nhiều mặt, đặc biệt là hệ thống cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ phát triển kinh tế vừa thiếu lại không đồng bộ; trình độ sản xuất còn nhiều hạn chế, kinh tế hàng hoá chưa phát triển. Không ít khu vực nông thôn miền núi tình hình sản xuất còn nặng về tự cung tự cấp. Trong khi đó, trình độ dân trí còn rất thấp, chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu CNH-HĐH ở địa phương. Bên cạnh đó, Đầm Hà cũng có những thuận lợi khá cơ bản. Việc tái lập huyện, đặc biệt là từ khi có Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXI (tháng 9-2002) đã tạo ra thế và lực mới, khuyến khích động viên chính quyền, nhân dân các dân tộc trên địa bàn phấn khởi, tin tưởng hăng hái thi đua sản xuất, xây dựng quê hương. Nghị quyết đã chỉ rõ: “Đoàn kết toàn dân, phát huy nội lực, khắc phục khó khăn, khai thác tiềm năng, xác định bước đi phù hợp, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội vững chắc, phát triển kinh tế đi đôi với đảm bảo công bằng xã hội”. Những mục tiêu này đã được cụ thể hoá bằng các giải pháp đẩy mạnh khai thác tiềm năng, thế mạnh kinh tế nông-lâm nghiệp, kinh tế biển, phát huy tiềm năng của các khu vực đồng bằng, ven biển, chuyển đổi cơ cấu kinh tế một cách phù hợp, vững chắc, nên đã và đang tạo ra sự chuyển động mới về kinh tế-xã hội, an ninh quốc phòng.
Với nhận thức, công tác Đảng, công tác chính trị là yếu tố trọng tâm, quyết định đến sự phát triển của địa phương, vì vậy, từ khi tái lập đến nay, Đảng bộ huyện Đầm Hà đã tập trung xây dựng Đảng TSVM cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, thực hiện tốt phương châm “Toàn Đảng làm công tác tư tưởng”; thông qua việc đổi mới phương thức phổ biến tuyên truyền nghị quyết của Đảng, thực hiện phương châm dân chủ, hướng về cơ sở, đảm bảo cung cấp những thông tin cần thiết về tình hình trong tỉnh, trong nước và thế giới đến cán bộ đảng viên và nhân dân thông qua các kỳ sinh hoạt Đảng, chương trình nói chuyện thời sự, các buổi họp thôn bản; củng cố các tổ chức Đảng ở những địa bàn trọng yếu, vùng sâu, vùng xa, những cơ sở yếu kém, thực hiện tốt việc phân loại, đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên; thường xuyên đổi mới sinh hoạt chi bộ, đưa đảng viên về sinh hoạt với địa phương, thực hiện tốt chuyên đề “Phân công nhiệm vụ cho đảng viên”. Đặc biệt là những năm qua, Huyện uỷ đã thực hiện khá bài bản công tác kiểm tra, kỷ luật Đảng, trong đó hướng trọng tâm công tác kiểm tra vào dấu hiệu vi phạm trên các lĩnh vực quản lý kinh tế, tài chính, xây dựng cơ bản, quản lý đất đai và việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, thi hành kỷ luật Đảng, giải quyết đơn thư, tố cáo đối với các tổ chức Đảng và đảng viên. Kết quả hằng năm, qua phân loại, số cơ sở đảng trong sạch vững mạnh đều đạt trên 70%. Mỗi năm tỷ lệ đảng viên mới kết nạp trên 6%, góp phần đưa số đảng viên từ 800 năm 2001 lên tới 1.109 hiện nay. Hầu hết đảng viên đều có tư tưởng lập trường kiên định, thực hiện tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Sự chuyển biến của công tác Đảng, công tác chính trị đã tạo ra thế và lực trong thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội với những bước đi phù hợp, hiệu quả. Với phương châm tranh thủ mọi nguồn vốn đầu tư, kết hợp với phát huy nội lực, từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương một cách bền vững, nông nghiệp là một ngành kinh tế mũi nhọn, chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế địa phương, huyện đã tập trung chỉ đạo tích cực chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, mùa vụ, nâng tỷ lệ quay vòng đất để nâng cao thu nhập trên một đơn vị diện tích canh tác, thông qua các chương trình phát triển cây lúa lai, chuyển đổi vùng đất trũng cấy lúa kém hiệu quả sang nuôi cá nước ngọt, mở rộng diện tích lúa mùa trung vụ, tăng diện tích trồng cây vụ đông. Để các chủ trương, nghị quyết đi vào cuộc sống, HĐND huyện đã có Nghị quyết về cơ chế hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp như: Hỗ trợ 50% giá giống ngô lai, lúa lai cho vụ mùa sớm, mùa trung và vụ đông; hỗ trợ lãi suất tiền vay ngân hàng dùng để mua con giống phát triển chăn nuôi theo quy mô trang trại; hỗ trợ kinh phí hoạt động cho đội ngũ khuyến nông viên cơ sở; hỗ trợ phát triển đàn bò lai sin... Bên cạnh đó, mỗi năm, huyện tổ chức các buổi tập huấn, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, cũng như tạo mọi điều kiện để nông dân vay vốn chuyển đổi mô hình sản xuất nhằm đem lại hiệu quả cao nhất, đặc biệt là chương trình xây dựng cách đồng 50 triệu đồng/ha/năm đã và đang nhận được sự hưởng ứng của nhân dân. Từ các chương trình này, đã làm thay đổi nhận thức và cách làm nông nghiệp của nông dân, từ đó nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp trên địa bàn, đã có một số cơ sở và hộ gia đình tích cực chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mùa vụ cho giá trị thu nhập trên 50 triệu đồng/ha/năm. Huyện cũng chủ trương đưa chăn nuôi thành một ngành chính, bằng cách vừa chú trọng đến phát triển giống vật nuôi truyền thống có giá trị hàng hoá cao trên thị trường vừa vận động nhân dân tích cực đưa những loại vật nuôi mới như bò laisin, gà tam hoàng, vịt siêu trứng vào chăn nuôi trên diện rộng. Hiện nay, nhiều hộ đã phát triển chăn nuôi theo hướng bán công nghiệp đem lại hiệu quả kinh tế khá cao. Lâm nghiệp cũng là một trong những thế mạnh của địa phương với hàng ngàn ha rừng và đất rừng có thể phát triển kinh tế trang trại, vườn rừng tổng hợp, nhất là những loại cho giá trị kinh tế cao như quế, trồng cây lấy gỗ... Huyện đã tạo mọi điều kiện để nhân dân phát triển kinh tế vườn rừng, duy trì liên tục hàng ngàn ha quế và các loại cây lấy gỗ khác, tạo việc làm và thu nhập ổn định cho nhiều hộ nông dân. UBND huyện có Chỉ thị 09 về việc thu hồi đất lâm nghiệp đã giao cho các hộ nhưng đến nay vẫn chưa đưa vào trồng rừng. Qua kiểm tra thấy toàn huyện còn 800 ha đất đã giao chưa sử dụng. UBND huyện đã yêu cầu các hộ dân phải trồng rừng nếu không sẽ thu hồi. Vì vậy năm 2007 diện tích trồng rừng tại huyện tăng đột biến, đạt 1.372 ha. Đặc biệt hiện nay, nhiều hộ gia đình đã chuyển đổi sang trồng cây keo, cây dong riềng, bước đầu cho hiệu quả kinh tế khá rõ nét.
Là huyện ven biển, Đầm Hà có hơn 10 ngàn ha mặt nước biển, hơn 5 ngàn ha bãi triều và hàng trăm ha đất trũng ven biển có thể chuyển sang nuôi trồng thuỷ-hải sản. Trên cơ sở nghiên cứu điều kiện khí hậu, nguồn nước trên địa bàn, huyện chủ trương tạo mọi điều kiện để các tổ chức, cá nhân đầu tư vào phát triển kinh tế thuỷ-hải sản, thông qua việc khuyến khích nông dân chuyển đất trũng sang nuôi cá nước ngọt; rà soát, quy hoạch trên 360 ha đất nuôi trồng hải sản, nuôi nhuyễn thể ở các xã Tân Bình, Đầm Hà. Những năm gần đây, nhờ có cơ chế phù hợp nên đã động viên được một lượng lớn tiền của và công sức của nhân dân tập trung vào nuôi cá lồng bè, nuôi sò, nuôi ngao và đánh bắt hải sản. Hiện, huyện có 370,9 ha nuôi trồng thuỷ, hải sản, trong đó có 185 ha nuôi tôm, 420 ô lồng nuôi cá trên mặt nước; đã thử nghiệm thành công mô hình nuôi tu hài, nuôi nghêu thủ công. Kết thúc năm 2007, tổng sản lượng đánh bắt, nuôi trồng thuỷ-hải sản đã đạt 3.721 tấn, tổng giá trị sản xuất gần 50,3 tỷ đồng. Kinh tế CN-TTCN và dịch vụ thương mại, du lịch của Đầm Hà cũng có những bước chuyển biến mới. Tuy không có nhiều tiềm năng phát triển công nghiệp như một số địa phương khác, nhưng hiện nay, huyện đã thu hút được một số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất gạch tuynel, lưới sợi ni lon và khai thác khoáng sản. Kinh tế TTCN có sức phát triển tương đối toàn diện cả về chiều rộng và chiều sâu, trong đó tập trung chủ yếu vào khai thác cát, sỏi, đá, sản xuất đồ mộc dân dụng, sửa chữa và đóng mới tàu, thuyền loại vừa và nhỏ, chế biến thực phẩm đã góp phần làm chuyển đổi cơ cấu kinh tế địa phương. Năm 2007, tổng giá trị sản xuất CN-TTCN đạt 34 tỷ đồng. Cùng với chuyển đổi cơ cấu ngành nghề, giải quyết việc làm cho lực lượng lao động dôi dư, các hộ có kinh tế khó khăn luôn được huyện đặc biệt quan tâm thông qua các chương trình giảm nghèo, xoá nhà tạm... Đến nay toàn huyện không còn hộ đói, tỷ lệ hộ nghèo giảm 4-5% sau mỗi năm.
Các lĩnh vực văn hoá-xã hội, an ninh - quốc phòng của Đầm Hà cũng có những kết quả đáng khích lệ. Huyện đã tranh thủ mọi nguồn đầu tư để xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ sự nghiệp y tế, giáo dục, văn hoá, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về học tập, khám chữa bệnh, vui chơi, giải trí của nhân dân trên địa bàn. Những thành tựu đó trong hơn 6 năm qua đã góp phần làm thay đổi diện mạo quê hương Đầm Hà, tạo tiền đề cho huyện vươn lên trong những năm tiếp theo.