Mỗi khi chạnh lòng nghĩ về sự hữu hạn của kiếp người tôi lại nghĩ đến lẽ sinh thành và tồn tại của văn học nghệ thuật. Thời gian cứ lặng lẽ trôi qua, bốn mùa mặc nhiên luân chuyển, con người chỉ có mặt một lần trên đời rồi mãi mãi đi vào cõi vĩnh hằng, nhưng văn chương nghệ thuật thì còn mãi với thời gian.
Riêng đối với Trần Nhân Tông, vị minh quân anh hùng, người sáng lập ra Thiền phái Trúc Lâm thì có thể không cần đến danh hiệu nhà thơ, ngài cũng đã cầm ''tấm vé'' đi vào cõi bất tử. Tuy nhiên, nói như Nguyễn Du, mẫu người anh hùng lý tưởng theo mỹ học phong kiến phải là Gươm đàn nửa gánh non sông một chèo nên Trần Nhân Tông sẽ đẹp hơn, hoàn thiện hơn trong mắt hậu thế khi Người đồng thời là nhà thơ. Nói cách khác, nhờ thơ văn của Trần Nhân Tông, ta hiểu hơn về cốt cách, tâm hồn của Người và vì thế người trở nên gần gũi với chúng ta hơn.
Sinh thời, Trân Nhân Tông sáng tác nhiều thể loại, gồm thơ, phú, văn, thư từ ngoại giao. Nhưng toàn bộ những tác phẩm của ông do Thánh đăng ngữ lục ghi lại hoàn toàn đã thất lạc, chỉ còn một số bài thơ, văn và ngữ lục được chép rải rác đó đây trong các tác phẩm sau này. Vì vậy, việc nghiên cứu tư tưởng của Người không dễ. Tuy nhiên, căn cứ vào những tác phẩm còn lại, ta có thể cảm nhận được những gì nhà vua đã từng quan tâm, nghĩ suy, trăn trở. Điều đặc biệt là, qua trước tác của Người, ta dễ dàng nhận thấy trong thơ văn của ông đạo và đời hài hoà làm một.
Mối quan hệ giữa đạo và đời ở đây thực chất là quá trình dân tộc hoá, dân chủ hoá những giáo lý của Phật giáo Thiền tông khi đi vào Việt Nam. Thơ Thiền Lý - Trần là một vấn đề của lịch sử. Đó là một hiện tượng một đi không trở lại của văn học Việt Nam trong buổi bình minh của văn học viết. Một mặt, nó là sản phẩm tinh thần tất yếu của giao lưu văn hoá, song mặt khác, nó đã tác động không nhỏ đến đời sống tâm linh của người Việt thời bấy giờ. Tác động ấy nhờ vào quá trình dân tộc hoá, dân chủ hoá những khái niệm triết học, tôn giáo vốn siêu hình và nhờ vào những tài năng văn học đã biến cảm hứng đạo và đời hài hoà làm một trong các sáng tác văn chương nghệ thuật.
Đạo là một khái niệm cơ bản của cả Lão giáo, Nho giáo và Phật giáo, không dễ đi vào tâm thức của người Việt. Tuy vậy, dân tộc ta đã biết Việt hoá những tư tưởng ấy, biểu hiện rõ nhất là trong thơ Thiền Lý - Trần ở tư tưởng hoà quang đồng trần. Hình ảnh một cành mai vẫn khoe sắc trước thềm bất chấp mùa xuân qua trong thơ của Thiền sư Mãn Giác: Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận/Đình tiền tạc dạ nhất chi mai (Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết/Đêm qua sân trước một nhành mai) là nhân sinh quan khoẻ khoắn đã vượt qua giáo lý khổ hạnh của Phật giáo.
Gắn liền với các trạng thái tâm hồn con người; thơ Thiền đời Trần tiếp tục mở rộng biên độ tới các lĩnh vực khác của cuộc sống khi vẫn mang trong mình tư tưởng hoà quang đồng trần, cư trần lạc đạo. Nó giúp cho các Phật tử - thi sĩ bước ra khỏi những giáo điều khô khan, cứng nhắc để nhập thế, giúp đời, tạo nên tinh thần khai phóng, cởi mở, vừa siêu thoát lại vừa gần gũi mà vẫn không hề đi ra ngoài giáo lý nhà Phật.
Không phải đợi đến Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, mà với Cư trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca, vua Trần Nhân Tông là người mở đầu một giai đoạn văn học mới trong lịch sử văn học Việt Nam - văn học sáng tác bằng chữ Nôm. Tinh thần khai phóng của tư tưởng hoà quang đồng trần, ''cư trần lạc đạo'' phổ biến trong thơ văn Trần Nhân Tông. Ông đề cao con người có trí tuệ siêu việt; có bản lĩnh, tự mình “xung thiên chí” để ''bùng nổ giác ngộ tâm Phật'' một cách độc lập. Đó là kiểu con người đói thì ăn, buồn ngủ thì nằm ngủ, tuỳ duyên tuỳ ngộ, hoà mình vào đất trời: ''ở đời vui đạo hãy tuỳ duyên/Đói cứ ăn đi mệt ngủ liền/Có báu trong nhà thôi khỏi kiếm/Vô tâm đối cảnh hỏi chi thiền'' (Cư trần lạc đạo phú). Đối với Trần Nhân Tông, Thiền chính là cuộc sống, là quá trình đi tìm chân lý. Mà chân lý không phải là điểm sáng cuối đường hầm, không nằm trong Phật pháp mà ở giữa lòng cuộc sống, trên mỗi bước chân người đời đi qua: ''Bụt ở trong nhà/Chẳng phải tìm xa/Nhân khuấy bổn nên ta tìm bụt/Đến cốc hay chỉn bụt là ta'' (Cư trần lạc đạo phú). Vua Trần Nhân Tông đã biết trong núi vốn không có Phật, Phật ở ngay trong lòng. Bậc chân tu phải biết tuỳ vào khả năng mà thể hiện đạo sống của mình giữa cuộc đời trần tục đầy những hệ luỵ thế sự: ''Trần tục mà nên, phúc ấy càng yêu hết tấc/Sơn lâm chẳng cốc, hoạ kia thực cả uổng công” (Cư trần lạc đạo phú). Người tu hành không hề cách biệt với cuộc sống mà hoà đồng với đời như một con người trần thế. Và chính trong cuộc đời trần tục ấy nếu họ giác ngộ được thì giá trị càng được nâng lên. Phật không ở bên kia bờ xa lắc, phải ''đáo bỉ ngạn'' mới gặp mà ở ngay trong tâm mỗi con người. Sống có đạo đức, có nhân nghĩa và biết yêu thương người khác như chính bản thân mình thì tất cả đều là Phật: ''Tích nhân nghì, tu đạo đức/ Ai hay này chẳng Thích Ca/ Cầm giới hạnh, đoạn xan tham/ Chỉn thực ấy là Di Lặc'' (Cư trần lạc đạo phú). Gạt bỏ lối mòn của tư duy, đưa con người phiêu diêu, bay bổng trong không gian bao la của tự do trí tuệ, Thiền trong thơ Trần Nhân Tông không còn là một tôn giáo nữa mà đã là một cách sống tốt đẹp.
Thơ Trần Nhân Tông còn lại không nhiều, nhưng những viên ngọc quý giá ấy theo thời gian vẫn toả lên những ánh sáng khác thường. Thật hiếm có một con người từng làm vua, làm tướng đuổi giặc, lại từ bỏ ngai vàng nhẹ nhàng như không rồi tìm về với ''Núi hoang rừng quạnh'' với ''Chiền vắng am thanh'' làm một Thiền sư, một ẩn sĩ. Để mỗi chiều tĩnh mịch, ngài yên lòng nhìn qua khung cửa hẹp, cảm nhận vẻ đẹp cuộc đời bằng trực giác vô ưu: ''Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên/ Bán vô bán hữu tịch dương biên/ Mục đồng địch lý qui ngưu tận,/ Bạch lộ song song phi hạ điền'' (Thôn trước, thôn sau đều nhạt mờ như khói/ Mọi vật dường như có dường không bên chiều tà/ Trong tiếng sáo của mục đồng trâu đã về hết/ Cò trắng từng đôi hạ xuống đồng) (Thiên Trường vãn vọng). Núi rừng hoặc phố thị, nhập thế hoặc lánh tục luôn vận động, hoán chuyển nhịp nhàng trong thơ Trần Nhân Tông. Trong đó, vừa có vẻ đẹp của con người ''Sát Thát'', lại vừa man mác vẻ đẹp của con người vô ưu trước tĩnh lặng của cõi đời. Trước bao la của đất trời, trước cái mênh mông vô hạn, con người Thiền quên hết mọi ưu phiền, để hoà nhập vào vũ trụ, vào cõi Chân Như: ''Đất vắng đài thêm cổ/ Ngày qua xuân chửa nồng/ Gần xa, mây núi cuốn/ Râm nắng, ngõ hoa lồng/ Muôn việc nước theo nước/ Trăm năm lòng bảo lòng/ Tựa hiên nâng sáo ngọc/ Ngực áo, đầy trăng trong'' (Lên núi Bảo Đài). Hình ảnh con người lặng yên hứng trăng đầy cả ngực đã mang đến cho ta một cảm giác kỳ diệu. Chỉ những giây phút ấy, con người mới thăng hoa, giải thoát khỏi những ràng buộc hữu hạn của kiếp người ngay chính nơi trần thế.
Thơ Trần Nhân Tông đã đem lại một niềm lạc quan, một cái nhìn ấm áp cho cuộc đời. Bằng tinh thần phá chấp, bằng khát vọng nhập thế, con người thơ Trần Nhân Tông đã tạo nên một vẻ đẹp, một dáng đứng riêng trong dòng chảy chung của văn học trung đại Việt Nam. Nguyễn Trãi, trong một bài thơ đề tựa ở chùa Hoa Yên, đã nói về vua Trần Nhân Tông như sau: Vua Trần Nhân Tông thời trước còn để dấu tích lại; Trong hào quang trắng thấy rõ đôi con ngươi của mắt Phật Thích Ca. Lời xưng tụng đó quả là xứng đáng với ngài.
Con đường ''lạc đạo'' đối với Trần Nhân Tông không phải là con đường hướng ngoại mà là một hành trình quay trở về với chính mình. Quay về với chính mình tức là quay về với bản thể uyên nguyên. Đó chính là ''bản lai diện mục'', là đạt đạo. Và khi đã đạt đạo thì mỗi một hành động bình thường trong đời sống, từ ăn, ngủ, đi đứng cho đến hái rau, gánh nước, chẻ củi, nấu cơm,... đều toả ra ánh sáng giác ngộ. Thế nên, đối với Điều Ngự Giác Hoàng, con người không phải đi tìm chân lý ở đâu xa, chân lý nằm chính ngay trong lòng cuộc sống. Bằng sự kết hợp hài hoà giữa đạo và đời, Trần Nhân Tông đã làm cho những triết lí vốn xa lạ, huyền bí của Phật giáo trở nên đời hơn. Tinh thần hoà quang đồng trần, cư trần lạc đạo đó đã khiến thơ ca của ông gần gũi với tâm hồn người Việt. Chính vì vậy, dù ở vị trí nào: Vị vua anh hùng, người sáng lập Thiền phái Trúc Lâm, thi sĩ lỗi lạc, Trần Nhân Tông cũng là niềm tự hào sâu sắc của bao thế hệ người Việt.