Qua 2 phiên toà xét xử, các nguyên đơn và bị đơn (đều là con, cháu của cụ ông Phạm Văn Khôi và cụ bà Đặng Thị Gấm ở thị trấn Quảng Yên, huyện Yên Hưng) vẫn chưa đạt được điều mình mong muốn. Cả 2 bản di chúc được đưa ra đều không hợp pháp. Mảnh đất và ngôi nhà trị giá hơn 3 tỷ đồng tới đây sẽ được phân chia thế nào?
Cụ Khôi và cụ Gấm sinh được 8 người con (6 trai, 2 gái), trong đó con trưởng là ông Phạm Văn Ngọc. Năm 1967, cụ Gấm mất do bom đạn của đế quốc Mỹ. Đến năm 2002, cụ Khôi qua đời ở ngôi nhà số 4 phố Trần Khánh Dư, thị trấn Quảng Yên, huyện Yên Hưng. Đây là ngôi nhà mà cả 8 người con cụ Khôi được sinh ra và lớn lên ở đây. Tuy nhiên, về sau chỉ có ông Ngọc ở lại ngôi nhà này, còn 7 người em của ông khi trưởng thành đều lần lượt ra ở riêng.
Sau khi cụ Khôi mất, ông Ngọc có đề nghị các em đến để thông báo di chúc của bố (bản năm 2002) với nội dung là để lại ngôi nhà nói trên cho vợ chồng ông Ngọc sử dụng làm nơi thờ cúng. Đến năm 2006, ông Ngọc mất và trước khi mất có di chúc để lại ngôi nhà số 4 phố Trần Khánh Dư cho con trai là Phạm Quốc Lương. Từ năm 2006 đến nay, bà Nguyễn Thị Dung (vợ ông Ngọc) và vợ chồng anh Lương vẫn sống ở căn nhà này.
Nhưng gần đây, 7 người em của ông Ngọc cho rằng, bản di chúc năm 2002 mà ông Ngọc bảo là của cụ Khôi để lại, là bản di chúc giả mạo. Vì thế, 7 người em của ông Ngọc đã kiện ra toà dân sự huyện Yên Hưng để đòi chia tài sản mà bố mẹ để lại (mảnh đất và ngôi nhà số 4 Trần Khánh Dư) thành 8 phần bằng nhau cho 8 anh em. Các nguyên đơn ước tính tổng giá trị mảnh đất và ngôi nhà khoảng trên 3 tỷ đồng.
Toà dân sự huyện Yên Hưng trong phiên xét xử sơ thẩm đã ra phán quyết không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn; giao cho bà Dung quản lý, sử dụng ngôi nhà nói trên.
Không đồng ý với phán quyết này, cả 7 nguyên đơn đều kháng cáo. Viện KSND huyện Yên Hưng cũng ra quyết định kháng nghị phúc thẩm bản án sơ thẩm nói trên của TAND huyện Yên Hưng. Theo Viện KSND huyện Yên Hưng, việc TAND huyện bác yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn là không có căn cứ, vi phạm pháp luật dân sự. Bởi vì, toà chưa phân định được phần tài sản riêng thuộc quyền sở hữu của cụ Khôi trong khối tài sản chung do cụ Gấm và cụ Khôi tạo dựng. Việc các nguyên đơn yêu cầu chia tài sản do cụ Gấm để lại là có căn cứ. Cùng với đó, bản di chúc bên bị đơn cung cấp được toà án chấp nhận là bản di chúc không hợp pháp, bởi đây là bản phô tô, nội dung bản di chúc không thể hiện ngày tháng. Mặt khác, cụ Khôi cũng không có quyền tự định đoạt phần tài sản của vợ mình như đã ghi trong bản di chúc, nên bản di chúc này càng không hợp pháp. Việc UBND thị trấn Quảng Yên chứng thực vào bản di chúc không thể hiện ý chí của người viết di chúc, mà chỉ xác nhận cụ Khôi là người đang cư trú ở địa phương và có giấy chứng nhận QSDĐ.
Từ những căn cứ trên, Viện KSND huyện Yên Hưng kháng nghị toàn bộ nội dung bản án dân sự sơ thẩm nêu trên của TAND huyện; đề nghị Toà phúc thẩm TAND tỉnh xét xử phúc thẩm theo hướng huỷ toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm nêu trên để xét xử lại.
Và trong phiên xét xử phúc thẩm, TAND tỉnh đã chấp nhận đơn khởi kiện của các nguyên đơn về chia tài sản thừa kế theo pháp luật của cụ Khôi cho những người được hưởng thừa kế cùng hàng; đồng thời quyết định huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án về TAND huyện Yên Hưng để xử lại.
Không biết tới đây, TAND huyện Yên Hưng sẽ xét xử lại theo hướng nào, nhưng rõ ràng tình cảm gia đình giữa bà Dung là chị dâu với các em bên chồng, giữa vợ chồng người cháu đích tôn của cụ Khôi với các chú, các cô không còn được như trước nữa. Bên nguyên đơn thì đưa ra một bản di chúc của cụ Khôi viết năm 1996 với nội dung: Chia toàn bộ giá trị mảnh đất có ngôi nhà số 4 Trần Khánh Dư thành 10 phần bằng nhau (8 phần cho 8 người con, 1 phần để lo ma chay, 1 phần cho người thờ cúng các cụ). Bên bị đơn lại có bản di chúc năm 2002 như nói ở trên. Cả 2 bản di chúc đến nay đều được khẳng định là không hợp pháp. Ở toà, con dâu trưởng và vợ chồng cháu đích tôn của cụ Khôi nhiều lần kể công chăm sóc mộ phần của người đã khuất và vì thế đòi quyền thừa kế theo di chúc (bản 2002). Còn 7 người em của ông Ngọc thì nhất quyết khẳng định bản di chúc năm 2002 là giả mạo. Khi thẩm phán gợi ý các đương sự có thể tự thoả thuận với nhau để tình cảm gia đình không bị sứt mẻ, thì con dâu trưởng và vợ chồng người cháu đích tôn nhất quyết không đồng ý, đề nghị cứ theo di chúc mà làm. Những người em thấy chị dâu và các cháu không xuống nước, họ cũng tỏ cương quyết không thoả thuận. Cả nguyên đơn và bị đơn đều không muốn chị em, chú cháu về nhà đóng cửa bảo nhau. Vì thế, với quan điểm thờ cúng là ở tâm, thừa kế là quyền, dựa trên cơ sở pháp luật, Hội đồng xét xử phiên toà phúc thẩm đã ra phán quyết như trên.