Để đạt mục tiêu đến năm 2012 có 95% dân số nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh, trong những năm qua cùng nguồn vốn hỗ trợ của Trung ương, các dự án tài trợ, tỉnh đã dành nguồn ngân sách đầu tư đáng kể cho chương trình này.
Và kết quả hết năm 2010 đã có 83% dân số khu vực nông thôn của tỉnh được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh.
Công trình hồ chứa và trạm cấp nước xã Sông Khoai (Yên Hưng) vừa được đầu tư xây dựng.
Theo mục tiêu phấn đấu trong 2 năm (2011 và 2012) tỷ lệ hộ dân nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh toàn tỉnh phải tăng thêm được 12%, với tổng nguồn vốn đầu tư khoảng 240 tỷ đồng, trong đó 75% là ngân sách Nhà nước và 25% là người dân đóng góp. Theo kế hoạch phân bổ vốn đầu năm 2011 từ nguồn ngân sách tập trung, tỉnh đã quyết định dành 42 tỷ đồng cho chương trình nước sạch vệ sinh môi trường nông thôn, trong đó 32 tỷ đồng từ chương trình xây dựng nông thôn mới và 6,8 tỷ đồng từ chương trình mục tiêu quốc gia, 3,2 tỷ đồng từ một số nguồn khác.
Đồng chí Nguyễn Minh Tân, Giám đốc Trung tâm nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn (Sở NN&PTNT) cho biết: Số vốn phân bổ đầu năm mới chỉ đáp ứng được 1/3 nhu cầu đầu tư cho các dự án, công trình cấp nước của năm 2011 cho khu vực nông thôn. Đúng là những năm gần đây nhận thức về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn của người dân có sự thay đổi đáng kể, nhiều nơi nhân dân tự đầu tư và gìn giữ tốt các công trình cấp nước, tích cực tham gia bảo vệ nguồn nước. Tuy nhiên, xét trên bình diện chung của cả tỉnh việc huy động sự đóng góp của người dân cho đầu tư các công trình cấp nước rất khó khăn, vì phần lớn dân cư sinh sống ở khu vực chưa có nước sạch hợp vệ sinh là những hộ có điều kiện kinh tế khó khăn, khả năng tham gia đóng góp hạn chế. Nhất là việc xây dựng các công trình cấp nước tập trung, công trình cấp nước nhỏ lẻ ở các xã vùng núi, xã hải đảo do dân số sinh sống thưa thớt, suất đầu tư lớn vì vậy phần tham gia đóng góp của người dân cũng cao hơn mức đóng góp của khu vực đồng bằng, nên càng khó hơn khi huy động sự tham gia của họ. Thêm nữa hiện nay các địa phương đang triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới, trong 19 tiêu chí thực hiện có nhiều tiêu chí cần huy động sự đóng góp của người dân cộng với tham gia đóng góp cho xây dựng các công trình nước nữa thực sự là gánh nặng với nông dân. Theo kế hoạch, năm 2011 toàn tỉnh phải phấn đấu tăng thêm 6% số dân khu vực nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh, trong khi đó để đạt được 1% cần đầu tư khoảng 20 tỷ đồng, như vậy cả năm cần khoảng 120 tỷ đồng. Nếu trong 6 tháng cuối năm không được tiếp tục bổ sung nguồn vốn việc tăng thêm được 6% sẽ rất khó khăn.
Tuy nhiên, cái khó cho đầu tư các công trình cấp nước ở vùng nông thôn trên địa bàn tỉnh hiện nay không nằm ở vốn, bởi ngoài nguồn của chương trình mục tiêu quốc gia, vốn của tỉnh, vốn đóng góp của nhân dân, nguồn vốn vay tín dụng, trong thời gian tới nguồn vốn đầu tư cho chương trình nước sạch vệ sinh môi trường nông thôn sẽ đa dạng hơn khi 29 xã của tỉnh tham gia vào Dự án cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn đồng bằng Sông Hồng giai đoạn 2, trong đó: Huyện Yên Hưng có 5 xã, Đông Triều 13 xã, Hoành Bồ 2, Vân Đồn 2, Tiên Yên 5, Đầm Hà 1, Hải Hà 1. Năm 2011 tỉnh cũng đã phê duyệt dự án cho Công ty Kinh doanh nước sạch Quảng Ninh tham gia thực hiện dự án cấp nước cho các xã khu vực Hà Bắc của huyện Yên Hưng. Đặc biệt nguồn từ chương trình xây dựng nông thôn mới sẽ tập trung cho đầu tư các công trình cấp nước ở các địa phương khu vực miền Đông của tỉnh, còn khu vực miền Tây sẽ tham gia thực hiện theo các dự án tài trợ của các tổ chức quốc tế. Mà cái khó trong đầu tư cho các công trình nước sinh hoạt nông thôn trên địa bàn tỉnh hiện nay đó là nguồn nước mặt đang có chiều hướng suy kiệt, ảnh hưởng tới hoạt động của các công trình cấp nước hiện nay, nhất là các công trình cấp nước tự chảy (chiếm tới trên 50%). Nguồn vốn đầu tư ngày càng tăng nhưng việc quản lý sau đầu tư đang rất khó khăn, nhiều công trình cấp nước tập trung đã đầu tư xây dựng nhưng chỉ sau thời gian vận hành đã gặp khó khăn do thu không đủ chi. Mặc dù đã có cơ chế chính sách thu hút các doanh nghiệp tham gia đầu tư xây dựng công trình cấp nước khu vực nông thôn, nhưng tính đến nay cả tỉnh mới chỉ có 1 doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư vào lĩnh vực này.
Như vậy cái khó cho đầu tư các công trình cấp nước ở khu vực nông thôn không hẳn là vốn mà song cùng với nó là cơ chế quản lý vận hành sau đầu tư, thu hút doanh nghiệp tham gia, là bảo vệ môi trường giữ gìn nguồn nước.