Từ cuối năm 2003 đến nay, cán bộ, nhân dân Cô Tô đã nỗ lực thi đua xây dựng huyện đảo trở thành huyện điểm văn hoá đầu tiên của Quảng Ninh theo Quyết định 4249 của UBND tỉnh.
Phong trào đã tạo động lực cho Cô Tô có bước chuyển mình mạnh mẽ về mọi mặt, được khẳng định là điểm sáng về huyện điểm văn hoá trong toàn quốc...
Nhà văn hoá thôn 3, xã Thanh Lân được xây dựng khang trang.
Những kết quả khả quan
8 năm qua, không chỉ đời sống vật chất mà cả đời sống tinh thần của bà con huyện đảo đã được nâng cao rõ rệt. Phát triển kinh tế hàng năm có mức tăng trưởng khá, tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2006-2010 đạt 14%, thu nhập bình quân đầu người tăng từ 620 USD lên 820 USD/năm. Cơ cấu kinh tế của huyện từng bước chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng ngư nghiệp, dịch vụ, du lịch. Thuỷ sản được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn của huyện, 10 năm qua, từ 90 tàu công suất nhỏ đã tăng lên trên 502 phương tiện khai thác hải sản với tổng công suất 8.670CV. Từ đó, sản lượng khai thác hải sản cũng không ngừng tăng và luôn vượt kế hoạch được giao, từ 4.500 tấn năm 2003, đến 2010 đã tăng hơn 3 lần là 14.150 tấn.
Hiện nay, Cô Tô đã và đang trở thành điểm đến hấp dẫn đối với khách du lịch trong và ngoài nước. Điều này được thể hiện qua số lượng du khách đến đảo không ngừng tăng, nếu như năm 2008 có 3.000 lượt khách thì năm qua con số này đã tăng lên 5.000 lượt, trong đó khách nước ngoài là 211 lượt. Tiểu thủ công nghiệp cũng có bước tiến đáng kể, nếu như năm 2003 toàn huyện có 25 cơ sở sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, chủ yếu là các hộ kinh doanh cá thể và hợp tác xã, thì đến 2010 đã có trên 40 cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp, giá trị sản xuất đạt gần 60 tỷ đồng. Tuy là một huyện nhỏ, khó khăn nhưng kết quả thu ngân sách trên địa bàn luôn vượt kế hoạch được giao (2004 đạt 1.762 triệu đồng, bằng 118,6%; năm 2010 đạt 3.300 triệu đồng, bằng 164,6%).
Huyện đã huy động mọi nguồn lực cho đầu tư cơ sở hạ tầng thiết yếu với tổng mức đầu tư 8 năm qua đạt trên 400 tỷ đồng, trong đó tập trung vào các công trình như đường giao thông, bến cảng, thuỷ lợi, điện, nước sinh hoạt, kiên cố hoá trường lớp học và nhà công vụ cho giáo viên, nâng cấp trung tâm y tế, các trạm y tế xã, các công trình thuộc Chương trình xây dựng nông thôn mới. Trong đó, có các công trình trọng điểm như Trung tâm dịch vụ hậu cần nghề cá, tôn tạo mở rộng Khu di tích Bác Hồ, Dự án nhà máy nhiệt điện trên đảo công suất 5MW... Hiện nay hệ thống thông tin liên lạc trên địa bàn huyện đã được nâng cấp và mở rộng, 100% số xã và vùng biển đảo được phủ sóng điện thoại di động của các mạng Viettel, Vinaphone, Mobie… Thuê bao cố định đạt 1.850 máy, thuê bao di động trả sau là 490 máy, 200 máy kết nối internet, đạt bình quân 40 máy/100 dân. Báo chí cả năm ước đạt 176.000 tờ, doanh thu cả năm đạt 510,9 triệu đồng.
Bên cạnh đó, các lĩnh vực văn hoá - xã hội cũng có những chuyển biến tích cực. Trong giáo dục, cơ sở vật chất dạy và học được đầu tư thiết thực, chương trình dạy và học được đổi mới theo quy định. Đội ngũ giáo viên được bổ sung tăng cường cả về số lượng và chất lượng, trình độ chuyên môn ngày càng được chuẩn hoá, đáp ứng nhu cầu của xã hội. Năm 2003, Cô Tô được công nhận hoàn thành chương trình phổ cập giáo dục trung học cơ sở; hai năm sau đó đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi. Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp các cấp học luôn đạt 100%. Mạng lưới y tế từ cơ sở đến huyện được quan tâm đầu tư thích đáng. 100% số trạm y tế đạt chuẩn quốc gia, trong đó trạm y tế thị trấn Cô Tô đạt chuẩn về trang thiết bị y tế theo quy định của Bộ Y tế. Đội ngũ y, bác sĩ ngày càng được tăng cường về số lượng và chất lượng. Các trang thiết bị y tế được đầu tư trang bị ngày một hiện đại, góp phần khám, chữa bệnh cho cán bộ, quân và dân trên đảo, hạn chế các ca chuyển viện lên tuyến trên. Các chương trình quốc gia về giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo được quan tâm chỉ đạo thực hiện một cách hiệu quả. Nhờ đó, tỷ lệ hộ nghèo của huyện đã giảm từ 23% (năm 2003) xuống còn 3,83% năm 2010, hộ cận nghèo là 6,42%, không có hộ đói...
Sự nghiệp Văn hoá - TDTT của huyện không ngừng được quan tâm bổ sung cả về tổ chức, biên chế và phương tiện hoạt động. Công tác xây dựng gia đình văn hoá, làng, khu phố văn hoá được duy trì thực hiện thường xuyên. Đến nay, 12/12 làng, khu phố của huyện đã đăng ký xây dựng làng văn hoá và xây dựng quy ước, hương ước; tỷ lệ đăng ký và công nhận gia đình văn hoá, làng, khu văn hoá năm sau cao hơn năm trước. Hiện nay, số gia đình văn hoá của huyện là 1.009/1.377 gia đình, đạt 73,2%, 6/12 thôn, khu đạt danh hiệu Làng văn hoá. Đặc biệt, 100% các thôn, khu có nhà văn hoá (NVH), riêng xã Đồng Tiến đã xây dựng được NVH cấp xã. Các NVH đều cơ bản đảm bảo các tiêu chí về quy mô, kích thước theo quy định, được đầu tư trang bị phông màn, loa máy đảm bảo cho nhu cầu sử dụng của nhân dân. Bên cạnh các hoạt động văn hoá nghệ thuật chuyên nghiệp, hoạt động văn hoá văn nghệ quần chúng ở huyện đảo được tổ chức thường xuyên, đảm bảo nhu cầu đời sống tinh thần cho cán bộ nhân dân...
Vẫn còn những tồn tại, hạn chế...
Dù đã đạt được nhiều kết quả khả quan, nhưng quá trình xây dựng huyện điểm văn hoá Cô Tô cũng bộc lộ một số hạn chế nhất định. Đó là một số thiết chế văn hoá trọng tâm triển khai chưa đúng tiến độ, như NVH cấp huyện, phòng chiếu phim, sân khấu ngoài trời... Việc hình thành và tổ chức các hoạt động văn hoá dân gian mang tính cộng đồng còn gặp nhiều khó khăn do cư dân là các hộ đi xây dựng kinh tế mới từ nhiều địa phương trong cả nước, điều kiện và khả năng lưu giữ, truyền dạy các sản phẩm văn hoá dân gian, truyền thống rất hạn chế; nhu cầu hưởng thụ và sáng tạo văn hoá trong nhân dân còn thấp. Các hoạt động trong phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá khu dân cư” mới phát triển theo chiều rộng, chưa đi vào chiều sâu, chưa bền vững. Việc bình xét danh hiệu “Gia đình văn hoá” đôi chỗ, đôi khi chưa khách quan, chưa sát với thực tế. Công tác vệ sinh môi trường trong các thôn, xã nhiều nơi chưa đảm bảo, chưa có biện pháp xử lý rác thải, nước thải v.v..
Có thể khẳng định, Đề án xây dựng huyện điểm văn hoá Cô Tô giai đoạn 2003-2010 đã thành công với những kết quả đáng khích lệ. Đó là thành quả từ sự nỗ lực rất lớn của cán bộ, nhân dân huyện đảo trong thực trạng xuất phát điểm nơi đây còn thấp. Chắc chắn, nếu biết phát huy kết quả đã đạt được, đồng thời rút ra bài học kinh nghiệm, khắc phục những hạn chế, Cô Tô sẽ có bước tiến mạnh mẽ hơn nữa trong giai đoạn tới đây...