Sử sách còn ghi lại, thời Hậu Lê, Yên Tử đã là trung tâm phật giáo và danh thắng nổi tiếng cả nước. Hàng năm, vua quan trong triều đều về đây lễ bái. Trong dòng người thành kính ấy luôn có bà Vũ Thị Phương, người làng Phù ủng, huyện Đường Hào, phủ Phụng Thiên.
Khoảng năm 1608, bà cùng chồng là Đoàn Chính Trực về Yên Tử lễ chùa cầu tự. Mặc dù là vợ một vị quan, sống trong nhung lụa gấm vóc nhưng bà có tấm lòng đức độ bao dung, cảm thông với nỗi cực khổ của nhân dân. Nên khi đi qua các xã Nội Hoàng, Trung Lương, Nam Mẫu (nay là các xã: Hoàng Quế, Tràng Lương (Đông Triều) và Thượng Yên Công (Uông Bí)), thấy dân ở đây bị mất mùa đói kém, đời sống cực khổ, bà đã bỏ ra 4 dật hoàng kim (mỗi dật 12 lạng) để cứu trợ cho dân nghèo 3 xã trên.
Đền Nhà Bà.
Theo Đại Việt sử ký toàn thư và Việt sử thông giám cương mục thì: “Năm ấy (1608) dân trong nước bị đói to. Người dân các huyện Đông Triều, Giáp Sơn thuộc Hải Dương đã trải qua một nạn đói khủng khiếp, người chết đói nằm gối lên nhau...”. Được ơn sâu nghĩa cả của bà Vũ Thị Phương, nhân dân trong 3 xã dần qua cảnh mất mùa đói kém, chết chóc tang thương. Già trẻ gái trai Nội Hoàng ai cũng ghi lòng tạc dạ công đức của bà. Khi bà mất, nhân dân Nội Hoàng đã đóng góp công của, chặt tre đan vách dựng ngôi đền trong xã, tôn tên thuỵ của bà là Ngân Tử, lấy ngày bà mất để hàng năm hương hoả giỗ chạp. Sau này tôn bà là nhân thần và rước bài vị của bà và chồng bà về chùa Hoa Yên để thờ phụng, cho khắc bia đá lưu truyền mãi mãi. Bia được dựng vào năm Quý Mão (1723). Hai xã Tràng Lương và Thượng Yên Công hiện nay cũng có đền hờ công đức bà Vũ Thị Phương.
Qua các hiện vật để lại có thể đoán định đền Nhà Bà được xây dựng vào khoảng đầu thế kỷ XVIII. Ban đầu chỉ là tranh tre vách đất, sau xây dựng bằng gạch ngói khang trang hơn. Trải qua thời gian, đền đã qua nhiều lần trùng tu. Thời kỳ thực dân Pháp xâm lược, chúng đã cho phá toàn bộ đền để lập “vàng đai trắng”. Đến năm 1993, nhân dân xã Hoàng Quế mới dựng lại ngôi đền ngay trên nền cũ như hiện nay.
Hiện hệ thống tượng pháp và đồ thờ cổ ở đền nhà Bà đã bị hỏng hoặc thất lạc hết, chỉ còn lại một bát hương đá làm vào năm 1625. Bát hương được đục liền với đế 3 chân, chạm khắc hoa văn hình mặt trời và mây soắn xung quanh, trên đó có ghi “Vĩnh Tộ ất Sửu niên mạnh hạ cát đán” tức ngày lành tháng tư năm ất Sửu, triều vua Lê Thần Tông 1625. Năm 1993, trong quá trình tu sửa đền người ta đã đào được 2 hũ tiền cổ, mỗi hũ khoảng 5kg. Rất tiếc 2 hũ tiền này đã bị vỡ và thất lạc nên không biết hũ đó thuộc triều đại nào. Ngoài ra, trong quá trình nạo vét hồ Cổ Lễ trước đền đã phát hiện một số cộc gỗ lim dài khoảng 3,5m đường kính 40cm.
Hội đền Nhà Bà kéo dài trong 3 ngày, từ ngày 3-6 đến 5-6 âm lịch, trùng với ngày giỗ của chủ thần đền Vũ Thị Phương. Phần lễ là một con lợn quay, bánh dầy, hoa quả, đèn hương. Phần hội là các hoạt động bắn nỏ, cờ tướng, cờ người, tổ tôm điếm, chọi gà, đánh vật, đánh đu, têm trầu cánh phượng, hát đúm... Ngoài ra, ngày mồng 10 tháng giêng, đền còn mở hội đầu năm giống như chùa Yên Tử.
Đền Nhà Bà là nét đẹp truyền thống của người Việt, thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”; nhắc nhở chúng ta về lòng nhân từ, đức độ, về tình yêu thương con người, về việc nhường cơm xẻ áo, lá lành đúm lá rách, một miếng khi đói bằng một gói khi no.