Đi tìm người vẽ tranh thờ

Vào một chiều mùa đông se lạnh nơi xóm núi, trong căn phòng nhỏ, một  người đàn ông đang tỉ mỉ tô màu cho tranh. Bức tranh dần hiện lên với hình ảnh các vị thần linh, rồi voi, ngựa, cờ lọng... đầy màu sắc và đượm vẻ thần bí.

Đó là những bức tranh thờ của đồng bào dân tộc Dao. Còn người vẽ tranh là anh Lê Hồng Văn, thôn Đồng Quặng, xã Đồng Lâm, Hoành Bồ...

Đi tìm người vẽ tranh thờ ảnh 1
Bức tranh nào cũng được anh Văn làm cẩn thận, tỉ mỉ...

Xếp đặt lại bức tranh cho cẩn thận, gác cây bút vẽ sang một bên, anh Văn trò chuyện với chúng tôi quanh chủ đề về tranh thờ. Anh vốn người Hà Tây, nhưng ở đất này cũng đã mấy chục năm có lẻ. Bố anh biết chữ Nho, lại thường xuyên đến các vùng núi vẽ tranh thuê cho đồng bào các dân tộc miền núi. Một lần đến vẽ tranh cho một người ở Đồng Lâm, ông thấy mến mảnh đất này và dừng lại lập nghiệp. Anh theo bố ở lại và làm rể nơi này. Đặc biệt, vợ anh không phải là người Kinh mà là một cô gái người Dao mặn mà, chất phác... Năm 1998, bố anh qua đời, để lại cho anh quyển sổ nhỏ phác lại kỹ càng những bức tranh thờ của các dân tộc như Dao, Tày, Cao Lan, Sán Chỉ... Anh cẩn thận cất giữ di vật mà người cha kính yêu để lại.

Bẵng đi vài năm, có một người Dao trong xã tìm đến đặt anh vẽ tranh thờ. Tranh thờ vốn là vật thể văn hoá tâm linh không thể thiếu trong các dịp cúng bái, lễ tết của đồng bào dân tộc miền núi. Vì nhiều lý do mà dòng tranh thờ dân gian miền núi đã dần dần mai một, thậm chí có những dân tộc đã mất hẳn tục thờ tranh. Vì thế, người am hiểu và biết vẽ tranh thờ cũng ngày càng hiếm. Hoàn cảnh gia đình còn nhiều khó khăn, anh và vợ còn chật vật làm rừng, làm ruộng để nuôi các con ăn học. Thấy người Dao ấy nài nỉ mãi nên anh nhận lời. Bộ tranh thờ ấy anh làm mất khá nhiều thời gian.

Sau lần ấy, nhiều người Dao trong xã, rồi trong huyện đến đặt anh vẽ tranh. Có người ở quanh đất Hoành Bồ, có người ở Ba Chẽ, lại có người ở mạn Lục Ngạn (Bắc Giang) hoặc Đình Lập (Lạng Sơn). Thậm chí, có một gia đình người Dao Quảng Ninh di cư vào Đắc Lắc cũng vượt hàng nghìn km về tìm nhờ anh vẽ. Thời gian không có, lại phải lo việc gia đình nên anh cũng không dám nhận nhiều. Anh Văn bảo, vẽ một bộ tranh thờ nếu khẩn trương cũng mất nửa tháng, còn làm từ từ chậm chậm cũng đến gần một tháng, có khi còn hơn. Do đó, không phải lúc nào anh cũng dám nhận vẽ.

Người Dao vốn trọng tục thờ tranh. Trong lễ cấp sắc, rồi các lễ lạt khác, thầy Tào làm lễ không thể thiếu tranh được. Hơn nữa, mỗi dòng họ người Dao đều phải có một bộ tranh thờ. Khi họ hàng quá đông, một nhánh hoặc một người muốn tách ra thì cũng cần lập một bộ tranh thờ mới. Các lễ cúng không chỉ là phong tục tập quán đối với người dân tộc thiểu số mà còn là hoạt động sinh hoạt văn hóa tinh thần quan trọng. Tranh thờ đóng vai trò đặc biệt thể hiện và diễn tả các tín ngưỡng, lối tư duy và cách hành xử trong cuộc sống của đồng bào. Vì vậy, khi điều kiện kinh tế thay đổi, đời sống vật chất khá hơn, đồng bào người Dao quan tâm nhiều hơn đến đời sống tín ngưỡng, tâm linh. Do đó, nhu cầu có một bộ tranh để thờ cúng càng ngày càng lớn với nhiều gia đình, dòng họ.

Gắn bó với việc vẽ tranh thờ cho bà con đến nay đã hơn mười năm, anh Văn cũng không nhớ là mình đã vẽ được bao nhiêu bộ. Anh chỉ nhớ bộ nhiều nhất là mười hai bức tranh khổ lớn, vẽ mất vài ba tháng. Bộ nhỏ cũng là ba tranh lớn và hai tranh nhỏ. Kèm theo mỗi bộ tranh còn có mũ, cờ, thẻ... Vẽ tranh thờ không đơn giản như nhiều người nghĩ, bởi tranh có bố cục hẹp lại dày đặc các nhân vật thần linh, thần chủ... Ngoài ra còn có voi, ngựa, cờ lọng, lại còn phải làm mũ, làm cờ v.v... Vẽ làm sao cho chính xác, các nhân vật có hồn khí, tô màu sao cho đẹp, làm tranh sao cho bền là cả một quá trình tìm tòi, khám phá. Hiện nay, anh Văn chủ yếu vẽ tranh trên giấy khổ lớn, rồi tô màu, sau đó dán bọc lại bằng vải cho bền đẹp. "Tranh thờ lẽ ra phải vẽ trên giấy dó, tô bằng màu chế từ các nguyên liệu cây cỏ tự nhiên mới bền và đẹp, mới đúng với tranh thờ truyền thống. Nhưng nếu làm như thế thì rất mất công, khó làm và đặc biệt rất tốn kém nên cả tôi và khách đặt tranh đều không có điều kiện để làm. Tuy vậy, tôi vẫn ấp ủ làm được một bộ tranh thờ đúng như truyền thống..." - Anh Văn tâm sự.

Rồi anh kể, năm 1996, khi bố anh còn sống, cụ có vẽ một bộ tranh thờ cho một người Dao ở Đình Lập, Lạng Sơn. Bộ tranh ấy được vẽ trên giấy dó, sau đó bồi giấy rô ky đằng sau, và tô bằng màu lấy từ tự nhiên. Bộ tranh ấy bền, màu sắc tươi tắn tự nhiên, chịu đựng được thời gian, màu không bạc nên đặc biệt có giá trị. Hồi đó, nhờ bộ tranh ấy mà cụ có được món tiền khá lớn, có giá trị bằng hai con trâu... Giờ đây, tuy không có điều kiện vẽ trên giấy dó nhưng anh Văn vẫn dành nhiều thời gian, công phu tìm ra những kỹ thuật để vẽ tranh thờ đúng với truyền thống nhất nhằm lưu giữ lại những tinh hoa, những nét đặc sắc trong đời sống văn hoá, tinh thần của đồng bào dân tộc Dao. Anh đã tìm ra cây nhắc hây và vạt hây (tên gọi theo tiếng Dao - PV) - hai loại cây có thể chế biến ra giấy và keo dán. Nhưng những loại cây này muốn làm thành giấy và keo lại phải trải qua nhiều công đoạn, đòi hỏi sự kỳ công, cẩn thận như cạo vỏ, ngâm nước, giã, lọc, đổ ra phên phơi, rồi lấy chai lăn qua lăn lại... Nói chung, phải mất nhiều thời gian và công đoạn mới ra được loại giấy vẽ như người xưa thường làm.

Tranh thờ là vật thiêng mang trong nó nhiều quyền uy và sự thần bí. Anh Văn nói rằng, để được nhìn thấy một bộ tranh thờ cổ xưa trong gia đình một người Dao là điều rất khó. Bởi tranh chỉ được mang ra treo vào những dịp lễ lạt lớn, còn ngày thường thì không ai dám mang tranh ra xem vì đồng bào người Dao cho rằng tranh thờ liên quan đến sự an hay nguy, suy hay thịnh của cả một gia đình, dòng họ. Theo anh Văn, tục thờ tranh mấy năm trở lại đây đã được nhiều người Dao quan tâm hơn. Nhưng những dân tộc khác trong tỉnh như Sán Chỉ, Cao Lan, Tày, Hoa... thì có vẻ như đã mất hẳn phong tục thờ tranh, bởi từ ngày vẽ tranh thờ đến nay, anh chỉ thấy có người Dao đến đặt vẽ. Anh Văn cũng mong muốn một ban, ngành chức năng của tỉnh có đề án nghiên cứu, sưu tầm bảo vệ tranh thờ cũng như tục thờ tranh của người Dao Quảng Ninh. Bởi nếu cứ như hiện tại, thì dòng tranh thờ sẽ ngày càng mai một, tục thờ tranh dần nhạt phai, người vẽ tranh không còn, nghĩa là một phần phong tục, văn hoá đặc sắc của đồng bào dân tộc miền núi sẽ dần mất đi và trôi vào quên lãng...