Diễn văn của đồng chí Nguyễn Văn Quynh, Ủy viên T.Ư Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ninh tại Lễ kỷ niệm 70 năm Ngày truyền thống công nhân vùng Mỏ - truyền thống ngành Than

Hôm nay, trong không khí phấn khởi của cả nước thi đua thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp, chào mừng việc nước ta trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và Tuần lễ cấp cao APEC diễn ra tại Thủ đô Hà Nội, chúng ta long trọng kỷ niệm 70 năm cuộc Tổng bãi công lịch sử của công nhân vùng mỏ - Kỷ niệm 70 năm Ngày truyền thống công nhân vùng Mỏ - truyền thống ngành Than 12-11 (1936-2006).

v

 Đồng chí Nguyễn Văn Quynh, Ủy viên T.Ư Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ninh.

Thay mặt Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh và Tập đoàn Công nghiệp Than và Khoáng sản Việt Nam, tôi xin nhiệt liệt chào mừng đồng chí Trương Mỹ Hoa, Phó Chủ tịch Nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nhiệt liệt chào mừng đồng chí Lê Khả Phiêu, nguyên Tổng Bí thư BCH TƯ Đảng Cộng sản Việt Nam, chào mừng các đồng chí lãnh đạo các Bộ, Ban, Ngành Trung ương, các đồng chí cán bộ lão thành cách mạng, các đồng chí đại biểu đại diện các địa phương bạn, đại biểu các ban, ngành, địa phương trong tỉnh, đại biểu các thế hệ công nhân, cán bộ ngành Than, cùng toàn thể các đồng chí và các tầng lớp nhân dân đã có mặt tại buổi lễ kỷ niệm trọng thề này.

 

Thưa các đồng chí và các bạn,

 

Trong chặng đường đấu tranh cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng, thắng lợi của cuộc Tổng bãi công của hơn 3 vạn thợ mỏ từ ngày 12 đến ngày 28-11-1936 đã trở thành sự kiện quan trọng trong lịch sử Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh và lịch sử giai cấp công nhân Việt Nam. Ngày 12-11-1936 đượcghi vào trang sử vàng của phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân Việt Nam và trở thành ngày truyền thống công nhân Vùng Mỏ - truyền thống ngành Than, là niềm vinh dự, tự hào của những người thợ mỏ và toàn thể nhân dân Quảng Ninh.

 

Tròn 70 năm trước, dưới ánh sáng của Nghị quyết Hội nghị Trung ương tháng 7-1936 và hưởng ứng cuộc vận động dân chủ do Đảng lãnh đạo (1936-1939), tại chính địa danh lịch sử này, đã nổ ra cuộc tổng bãi công của công nhân và người lao động thuộc Công ty Pháp mỏ than Bắc Kỳ. Cuộc đấu tranh một mất một còn này của những người vô sản vùng mỏ đã nhanh chóng lan rộng từ Mông Dương, Cửa Ông, Cẩm Phả đến Hòn Gai, Uông Bí, Đông Triều để đòi tăng lương, giảm giờ làm, đòi dân chủ, dân sinh...Cuộc bãi công nổ ra nhanh chóng trước sự bàng hoàng, sửng sốt của bọn mật thám, cảnh sát, chủ mỏ, của chính quyền thực dân, làm cho toàn bộ hoạt động của Công ty Pháp mỏ than Bắc Kỳ bị đình trệ. Địch điên cuồng đàn áp nhưng không khuất phục được ý chí và tinh thần đoàn kết đấu tranh của thợ mỏ. Sau những ngày đấu tranh kiên cường bất khuất, cuộc Tổng bãi công đã thắng lợi. Bọn chủ mỏ phải nhượng bộ và chấp nhận giải quyết toàn bộ yêu sách của công nhân, phải công bố "Bản điều lệ mới về mỏ''. Về ý nghĩa chính trị, cuộc Tổng bãi công đã đánh một đòn rất mạnh, làm rung chuyển đến tận gốc bộ máy chính quyền thực dân ở khu mỏ. Cuộc Tổng bãi công không chỉ tác động trong phạm vi địa bàn tỉnh, mà còn mở rộng ảnh hưởng, thúc đẩy phong trào cách mạng cả nước và toàn xứ Đông Dương. Với ý nghĩa và tầm vóc lịch sử ấy, cuộc Tổng bãi công tháng 11-1936 của công nhân vùng mỏ đã để lại những bài học quý báu về sự tập hợp lực lượng, về tính tổ chức kỷ luật trong đấu tranh, về tinh thần tương thân, tương ái của những người công nhân vùng mỏ và đó là cội nguồn của truyền thống ''kỷ luật và Đồng tâm'' của các thế hệ công nhân và lao động vùng Mỏ chúng ta.

Nhân ngày kỷ niệm lịch sử này, chúng ta bày tỏ lòng biết ơn đối với lớp lớp những người thợ mỏ đã đấu tranh anh dũng và hy sinh oanh liệt để viết nên những trang sử hào hùng của Vùng mỏ. Chính sự đóng góp to lớn đó đã góp phần để có những thành quả tốt đẹp của ngày hôm nay.

 

Thưa các đồng chí và các bạn,

 

Bài học vô giá rút ra từ cuộc Tổng bãi công năm xưa vẫn còn nguyên giá trị trong sự nghiệp lao động, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của Đảng bộ, nhân dân Quảng Ninh và của ngành Than. Trước lúc đi xa, Bác Hồ muôn vàn kính yêu đã căn dặn: ''Bác mong tất cả công nhân và cán bộ ngành than cố gắng hơn nữa, đẩy mạnh ngành Than trở thành một ngành gương mẫu cho các ngành kinh tế khác và tỉnh Quảng Ninh trở thành một tỉnh giàu đẹp''. Lời dạy của Người được khắc sâu trong tâm tư, tình cảm và hành động của mỗi người thợ mỏ và mỗi người dân Quảng Ninh.

Qua 20 năm đổi mới, vượt qua nhiều khó khăn thử thách, kinh tế - xã hội của tỉnh đã đạt nhiều thành tựu và tiến bộ quan trọng: Trong giai đoạn 1996 - 2000, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt bình quân 9,6%/năm. GDP tính theo đầu người năm 2000 tăng hơn 2 lấn so với năm 1990. 5 năm 2001- 2005, kinh tế của tỉnh tăng trưởng cao hơn, tổng sản phẩm (GDP) tăng bình quân hàng năm 12,75%, GDP bình quân đầu người năm 2005 đạt 726 USD. Cơ cấu kinh tế có sự chuyển biến tích cực theo hướng công nghiệp hoá. Kết cấu hạ tầng cơ sở được đầu tư, nhiều công trình đã hoàn thành và đưa vào sử dụng. Văn hoá - xã hội tiếp tục phát triển và có bước tiến bộ, từng bước hài hoà với phát triển kinh tế. Công tác xoá đói giảm nghèo thu được kết quả tốt. Chính trị ổn định. Quốc phòng an ninh được giữ vững, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm.Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng lên. Diện mạo tù thành thị đến nông thôn, từ vùng thấp đến vùng cao đã không ngừng đổi mới. Năm 2006, năm đầu tiên triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII, chúng ta cũng đạt được những kết quả tương đối khả quan, 10 tháng đầu năm, kinh tế tiếp tục có bước phát triển cao và ổn định (GDP cả năm ước tăng 13,1%). Các dự án đầu tư lớn về than, điện, xi măng, đóng tàu... tiếp tục được triển khai. Sản xuất kinh doanh nhìn chung phát triển tốt, xuất khẩu tăng cao, thu ngân sách đạt khá; nhiều chỉ tiêu đạt cao so với kế hoạch, tăng cao so với cùng kỳ và có triến vọng hoàn thành trước kế hoạch đề ra cho năm 2006.

Trong quá trình xây dựng và phát triển, tỉnh Quảng Ninh và ngành Than luôn có sự gắn bó mật thiết. Truyền thống đó được khởi nguồn từ phong trào cách mạng ở vùng mỏ từ khi có Đảng lãnh đạo và ngày nay càng thể hiện chặt chẽ trong mối quan hệ phối hợp giữa phát triển ngành với địa phương và vùng lãnh thổ. Mỗi bước phát triển của tỉnh Quảng Ninh đều thúc đẩy và tạo điều kiện thuận lợi cho ngành Than phát triển. Mỗi bước trưởng thành của ngành Than đều góp phần quan trọng vào thực hiện nhiệm vụ phát triển công nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, ổn định xã hội trên địa bàn tỉnh.

Trong những năm qua, ngành Than đã từng bước chuyển đổi cơ cấu sản xuất, đổi mới thiết bị công nghệ, từng bước thích nghi với cơ chế thị trường, từ Tổng Công ty than đã trở thành Tập đoàn kinh tế lớn, đa ngành, phát triển trên nền sản xuất than mà sản lượng chủ yếu trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh. Năm 2005 sản lượng than sạch đã đạt 28 triệu tấn, bằng 1,8 lần chỉ tiêu đề ra trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX; 10 tháng đầu năm 2006 đạt hơn 29 triệu tấn, tăng 23%, than tiêu thụ 31,6 triệu tấn, tăng 24,7% so với cùng kỳ. Có được những kết quả đó là sự lớn mạnh của đội ngũ cán bộ công nhân ngành Than, riêng trên địa bàn Quảng Ninh đã có gần 8 vạn cán bộ công nhân, trong đó 1,5 vạn đảng viên, luôn vững vàng về bản lĩnh chính trị, ý thức được vai trò giai cấp của mình và là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hoá-hiện đại hoá ở Vùng mỏ.

Tổng công ty than Việt Nam nay là Tập đoàn Công nghiệp Than và Khoáng sản Việt Nam đã có nhiều biện pháp tích cực đẩy mạnh hiện đại hoá sản xuất than, đáp ứng nhu cầu của thị trường và sự phát triển của đất nước. Cùng với thực hiện nhiệm vụ sản xuất góp phần quan trọng vào việc thực hiện mục tiêu phát triển công nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh, ngành Than đã quan tâm đầu tư vào lĩnh vực bảo vệ môi trường, văn hoá xã hội, chăm lo tốt hơn đến đời sống tinh thần cho công nhân mỏ. Nhiều doanh nghiệp ngành Than đã đầu tư hàng trăm triệu đồng xây dựng cơ sở hạ tầng cho các xã nghèo trong tỉnh...Đó là những biểu hiện đẹp đẽ, thắm đượm tình thương yêu giai cấp của những người thợ mỏ đối với nhân dân các dân tộc trong tỉnh.

 

Thưa các đồng chí và các bạn,

 

Đạt được những kết quả nêu trên, bên cạnh sự nỗ lực to lớn của địa phương và ngành Than, chúng ta luôn nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng, Chính phủ, sự phối hợp, giúp đỡ của các Bộ, Ban, Ngành Trung ương, các địa phương bạn để tỉnh Quảng Ninh cũng như ngành Than tháo gỡ khó khăn về cơ chế chính sách, đầu tư cơ sở hạ tầng, phát triển sản xuất và các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Nhân dịp này, thay mặt Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Quảng Ninh, tôi xin trân trọng cảm ơn sự quan tâm của Trung ương Đảng, Chính phủ, sự giúp đỡ của các Bộ, Ban, Ngành Trung ương, các địa phương đối vời sự nghiệp xây dựng, phát triển tỉnh Quảng Ninh và ngành Than trong những năm vừa qua.

 

Thưa các đồng chí và các bạn,

 

Đất nước đang bước vào một thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, vì mục tiêu ''dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh''. Để khai thác tốt hơn các tiềm năng, lợi thế, đưa Quảng Ninh phát triển với tốc độ nhanh, ổn định và bền vững, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XII đã đề ra mục tiêu tồng quát là: "Tiếp tục đổi mớitoàn diện, mạnh mẽ và đồng bộ, động viên mọi nguồn lực để đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế; phấn đấu phát triển kinh tế vớitốc độ cao, ổn định, bền vững, gắn kết với các lĩnh vực văn hóa - xã hội; nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, nâng cao năng lực lãnh dạo của Đảngvà hiệu quả hoạt động của cả hệ thống chính trị, bảo đảm quốc phòng - an ninh, giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội; phấn đấu xây dựng Quảng Ninh thực sự trở thành một địa bàn động lực, phát triển năng động trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ và cơ bản trở thành một tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2015''.

Để đạt được mục tiêu nêu trên chúng ta đang tập trung chỉ đạo để thực hiện thật tốt các nhiệm vụ chủ yếu sau:

- Bằng nhiều giải pháp phấn đấu giữ vững sự tăng trưởng kinh tế cao và bền vững trên cơ sở tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, phát huy có hiệu quả các tiềm năng và lợi thế của tỉnh.

- Phát triển các lĩnh vực văn hoá đồng bộ với kinh tế, coi trọng bản sắc văn hoá truyền thống các dân tộc Quảng Ninh; đẩy mạnh xã hội hoá nhằm chăm lo giải quyết tốt các vấn đề xã hội; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước phát triển.

- Thực hiện tốt nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; xây dựng đường biên giới hoà bình, hữu nghị; giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo đảm trật tự kỷ cương trong các hoạt động của đời sống kinh tế- xã hội.

- Mở rộng và nâng cao hơn nữa hiệu quả quan hệ đối ngoại; chủ động, tích cực, khẩn trương trong hội nhập quốc tế đi đôi với nhiệm vụ cải cách nền hành chính, nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy chính quyền các cấp và đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

- Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể, đẩy mạnh thực hiện quy chế dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, không ngừng củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân.

- Nâng cao năng lực lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng; củng cố và nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở Đảng; rèn luyện, nâng cao trình độ, tính kỷ luật, tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên.

Đối với ngành Than, trước nhu cầu tiêu thụ ngày càng tăng của nền kinh tế đất nước, song điều kiện khai thác than ngày càng khó khăn, đòi hỏi về gìn giữ bảo vệ môi trường ngày một cao hơn. Vì vậy, cần tiếp tục đầu tư đổi mới trang thiết bị, tăng cường công tác quản lý, đảm bảo an toàn, chăm lo tốt hơn đến đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động. Tiếp tục đẩy mạnh quá trình sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp, mở rộng ngành nghề, lĩnh vực hoạt động, để các sản phẩm có tính cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế Xây dựng Tập đoàn Công nghiệp Than và Khoáng sản Việt Nam ngày càng lớn mạnh, có thương hiệu và uy tín trong và ngoài nước.

 

Kính thưa các đồng chí đại biểu,

Thưa các đồng chí và các bạn,

 

Dưới ánh sáng Nghị quyết ĐạI hội X của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp; với truyền thống vẻ vang của thợ mỏ và nhân dân lao động Quảng Ninh, nhất định Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc tỉnh ta sẽ phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đề ra, xây dựng tỉnh Quảng Ninh ngày càng giàu đẹp, cơ bản trở thành một tỉnh công nghiệp vào năm 2015 và ngành Than sẽ trở thành ngành kinh tế gương mẫu như lời căn dặn của Bác Hồ kính yêu.

Kính chúc các vị đại biểu cùng toàn thể các đồng chí và các bạn sức khoẻ, hạnh phúc và thành đạt.

Xin cám ơn!

Cùng chuyên mục