Đoàn Cải lương Quảng Ninh 42 năm, một chặng đường

Đất nước ta, mỗi vùng miền có những loại hình nghệ thuật đặc trưng riêng. Những người yêu nghệ thuật hẳn khó hình dung các chiếu chèo - vốn là “đặc sản” của đồng bằng Bắc Bộ lại có thể “đứng” được ở Nam Bộ - quê hương của những câu cải lương, vọng cổ mùi mẫn và ngược lại.

Đoàn Cải lương Quảng Ninh 42 năm, một chặng đường ảnh 1

Một cảnh trong vở “Trạng Lợn”, Đoàn Cải lương Quảng Ninh biểu diễn phục vụ đồng bào xã Đại Thành (Tiên Yên), tháng 1-2007. ảnh: Trần Minh

Ấy vậy mà đã hơn 50 năm qua, nghệ thuật cải lương đã đứng và đứng vững ở một vùng đất công nghiệp sôi động là Quảng Ninh. Có người cho rằng ấy là do nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của người Vùng mỏ, có người lại bảo đó là do cái tài của những nghệ sĩ cải lương đã thu phục lòng người nơi này...

Trong số ba đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp ở Quảng Ninh hiện nay, Đoàn Cải lương Quảng Ninh có lịch sử ra đời từ khá sớm. Tiền thân của đoàn là gánh hát Lúa Vàng, ra đời năm 1957 trên cơ sở tập hợp những người yêu môn nghệ thuật này. Những kép chính nổi tiếng của gánh hát ngày ấy, giờ vẫn còn đó như Ngọc Lô, Hải Phượng, Hoàng Hạc (nay là Nghệ sĩ Ưu tú Hoàng Hạc). Một trong những vở diễn tiêu biểu ngày ấy của gánh hát Lúa Vàng là vở Tiếng sấm Tây Nguyên. Năm 1965, vở diễn này đã được phía bạn Trung Quốc mời sang biểu diễn và đã gây ấn tượng tốt đẹp. Ngày 1-6-1966, gánh hát Lúa Vàng chính thức đổi tên thành Đoàn Cải lương Quảng Ninh và trở thành đơn vị hành chính sự nghiệp của Nhà nước kể từ đó đến nay.

Hơn 40 năm kể từ ngày thành lập, đã có biết bao thế hệ nghệ sĩ của Đoàn Cải lương Quảng Ninh đã làm sáng danh môn nghệ thuật cải lương trên vùng đất địa đầu Đông Bắc Tổ quốc. Tiêu biểu như các nghệ sĩ: NSƯT Hoàng Hạc, Huy Mão, Hải Phượng, Ngọc Lô, Tuyết Nhung, Hồng Nhung, Mạnh Hải đến thế hệ tiếp nối sau đó như NSƯT Thanh Chương, NSƯT Bích Hoà, NSƯT Tiến Mác... Bằng lời ca tiếng hát, các nghệ sĩ của Đoàn ngày ấy đã không quản ngại khó khăn, đạn bom đi tới các công trường, xí nghiệp sản xuất than, lên biên giới hay ra hải đảo biểu diễn phục vụ công nhân, chiến sĩ, nhân dân các dân tộc trong tỉnh. Hai nghệ sĩ của Đoàn là Trần Bường và Nguyễn Duy Lăng đã tham gia đoàn văn nghệ sĩ của Quảng Ninh đi vào biểu diễn phục vụ chiến trường miền Nam nhiều tháng trời. Nhiều vở diễn của Đoàn trong thời kỳ này đã để lại ấn tượng với người xem như: Quê than rực lửa, Nổi gió. Tiếp đó đến những thập kỷ 70 và 80 của thế kỷ trước là một loạt các vở: Thái hậu Dương Vân Nga, Bỉ vỏ, Dòng suối trắng, Sắc phù dung, Ai giết chồng tôi...

NSƯT Thanh Chương, Trưởng Đoàn Cải lương Quảng Ninh, nhớ lại: “Thời kỳ đất nước khó khăn chưa có công cuộc đổi mới, anh em nghệ sĩ cũng rất khổ. Chuyện nghệ sĩ đêm là “hoàng tử”, sáng hôm sau về thay đồ thành anh xúc tép là hết sức bình thường. Bản thân tôi cũng đã trải qua như vậy. Tuy nhiên, ai cũng say, cũng đam mê với nghề, phấn đấu, nỗ lực cho từng vai diễn của mình. Cực nhưng mà vui”.

Một trong những vở diễn thành công nhất của Đoàn Cải lương Quảng Ninh giai đoạn này là vở Bỉ vỏ, dựa theo tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Nguyên Hồng, trong đó vai chính Năm Sài Gòn do nghệ sĩ Thanh Chương thể hiện. Năm 1990, Bỉ vỏ đã giành Huy chương vàng và gây tiếng vang lớn tại Hội diễn sân khấu cải lương chuyên nghiệp toàn quốc tổ chức tại Hải Phòng. Còn với nghệ sĩ Thanh Chương, như anh tâm sự vai diễn để đời này là một dấu ấn quan trọng để anh được Nhà nước xét phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ Ưu tú vào những năm sau đó.

Đất nước bước vào công cuộc đổi mới, Quảng Ninh phát triển từng bước khẳng định trở thành vùng kinh tế trọng điểm của Bắc Bộ. Cuộc sống của những nghệ sĩ nhờ vậy cũng đã đỡ vất vả hơn. Tuy nhiên, một khó khăn thử thách mới lại xuất hiện, đó là sự ra đời, phát triển mạnh mẽ của các loại hình nghệ thuật giải trí như video, karaoke...  tới mức có lúc người xem cảm thấy như “bội thực” về nghệ thuật. Để tháo gỡ khó khăn, tìm hướng đi, vào khoảng những năm 1992-1993, các đoàn Kịch nói, Chèo, Cải lương và Đoàn ca múa đã được sáp nhập làm một; đến năm 1993 thì tách ra: Đoàn ca múa chuyển về Trung tâm Văn hoá Thông tin tỉnh; Kịch nói; hai đoàn Chèo và Cải lương sáp nhập thành Nhà hát nghệ thuật dân tộc. Nhưng đến tháng 8-1996 thì Chèo và Cải lương lại tách, “ai” về nhà nấy. Lý do là hai loại hình nghệ thuật khác nhau dẫn tới hoạt động không hiệu quả.

Tuy nhiên, sau thời gian đó, Đoàn Cải lương Quảng Ninh vẫn gặp những thách thức không nhỏ; đó là làm thế nào để tiếp tục tồn tại, phát triển được trong cơ chế thị trường hôm nay. NSƯT Thanh Chương cho biết: Chúng tôi đã trăn trở nhiều và thấy rằng để thích hợp với cơ chế, thị hiếu mới của khán giả hôm nay, không có cách nào khác là Đoàn phải không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng nghệ thuật, đồng thời bám sát cuộc sống, sẵn sàng thích nghi đáp ứng nhu cầu người xem. Cho đến hôm nay, có thể khẳng định đó là con đường đúng đắn. Cải lương Quảng Ninh vẫn phát triển, giành được nhiều cảm tình của người xem. Một số vở như Trạng Lợn, Cây xương rồng v.v. đã “sống” cùng khán giả trong suốt 2-3 năm qua.

Ngày nay, bên cạnh lớp nghệ sĩ gạo cội như NSƯT Thanh Chương, NSƯT Tiến Mác, NSƯT Bích Hoà, nghệ sĩ Thế Sinh, Văn Nam.v.v. một thế hệ các nghệ sĩ trẻ của Đoàn đã và đang từng bước khẳng định mình như Hoàng Thuỷ, Thu Thuỷ, Tuấn Ngọc, Thanh Thanh. Hy vọng, với truyền thống hơn 40 năm của mình, Đoàn Cải lương Quảng Ninh sẽ tiếp tục phát triển, phục vụ ngày càng tốt hơn khán giả Vùng mỏ thân yêu.