Đoàn ĐBQH Quảng Ninh tham gia thảo luận về một số nội dung của dự thảo Luật bảo vệ môi trường (sửa đổi)

Chiều ngày 30-5-2014, Quốc hội biểu quyết thông qua Nghị quyết về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2015, điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh toàn khóa và năm 2014 của Quốc hội. Tiếp đó, Quốc hội nghe Ủy ban thường vụ Quốc hội báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật bảo vệ môi trường (sửa đổi) và thảo luận tại hội trường về một số nội dung còn có ý kiến khác nhau của dự thảo Luật bảo vệ môi trường (sửa đổi). Cùng tham gia phát biểu thảo luận, Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Ninh có đại biểu Trần Văn Minh, Phó Trưởng ban Dân nguyện của Quốc hội.

Đại biểu Trần Văn Minh, Phó Trưởng ban Dân nguyện của Quốc hội phát biểu.
Đại biểu Trần Văn Minh, Phó Trưởng ban Dân nguyện của Quốc hội phát biểu.

Tham gia thảo luận, đại biểu Trần Văn Minh phát biểu một số nội dung sau:

Một là, về nguyên tắc, cấp độ, kỳ quy hoạch BVMT (Điều 8). Khoản 3 qui định kỳ qui hoạch BVMT là 10 năm, tầm nhìn đến 20 năm. Theo đại biểu, cần phải quy định lại cùng với kỳ quy hoạch phát triển KT-XH. Có như vậy thì mới đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất với quy định phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH tại Điểm a Khoản 1; với quy định là có thể lồng ghép qui hoạch BVMT vào quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH (ở cấp tỉnh) tại Khoản 2 Điều 9.

Hai là, về đối tượng phải thực hiện ĐMC (Điều 13), đại biểu nhất trí phải thực hiện ĐMC cho chiến lược, quy hoạch của các đối tượng đã được quy định trong dự thảo. Nhưng riêng quy định phải thực hiện ĐMC cho kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực ở Khoản 4 thì cần phải xem xét lại tính cần thiết để việc thực hiện ĐMC được thực chất, tránh lãng phí. Nếu có thì cũng chỉ thực hiện ĐMC đối với KH 5 năm trở lên, vì các kế hoạch ngắn hạn chỉ mang tính tác nghiệp, thực hiện ĐMC là không cần thiết, gây tốn kém, lãng phí cả về thời gian và tiền bạc. Nếu cần thực hiện ĐMC đối với kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực từ 5 năm trở lên thì cũng phải quy định cụ thể trong Luật để tạo khung pháp lý cho Chính phủ quy định chi tiết danh mục như đã quy định ở Khoản 7.

Ba là, về tham vấn trong quá trình thực hiện ĐTM (Điều 22), đại biểu cho rằng, dự thảo Luật trình kỳ họp 6 dành Điều 15, Điều 16  quy định về tham vấn trong quá trình thực hiện ĐTM; tuy nhiên, trong quá trình thảo luận, nhiều ĐBQH (trong đó có cả đại biểu) đã đề nghị cần phải thể hiện lại các quy định này theo hướng mở rộng đối tượng tham vấn và cụ thể hơn cách thức tiến hành tham vấn để bảo đảm việc tham vấn được thực hiện nghiêm túc, thiết thực, giảm thiểu các xung đột có thể xảy ra giữa cộng đồng dân cư và chủ dự án trong quá trình xây dựng, vận hành dự án; dự thảo Luật gửi xin ý kiến các Đoàn ĐBQH vào tháng 3/2014 còn dành lại 1 điều (Điều 22) quy định về nội dung này; đến dự thảo Luật trình kỳ họp 7 chỉ còn duy nhất Khoản 2 Điều 22 quy định “Chủ đầu tư phải tổ chức tham vấn các cơ quan nhà nước, cộng đồng chịu tác động trực tiếp bởi dự án”. Như vậy, ngược lại với kiến nghị của nhiều ĐBQH, dự thảo Luật ngày càng thu gọn, đơn giản hóa nội dung này, đến mức chỉ còn quy định trách nhiệm của chủ đầu tư phải tổ chức tham vấn, cũng không có Điều, Khoản giao cho cơ quan nào quy định cụ thể, cũng không có bất cứ một giải thích nào trong Báo cáo giải trình tiếp thu. Qua sự phân tích trên, đại biểu đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo, thẩm tra giúp UBTVQH xem xét, chỉnh sửa, bổ sung để việc tham vấn được thực hiện nghiêm túc, hiệu quả.

Bốn là, về trách nhiệm của chủ đầu tư dự án, chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ sau khi bản CKBVMT được xác nhận (Điều 35). Khoản 2 quy định “Trong trường hợp để xảy ra sự cố môi trường phải dừng hoạt động và báo cáo ngay cho UBND cấp xã và cấp huyện nơi thực hiện dự án để được chỉ đạo xử lý”. Khi đối chiếu với Điều 34 quy định trách nhiệm tổ chức thực hiện việc xác nhận đăng ký bản CKBVMT, đại biểu thấy có một số bất cập:

 Nếu đối tượng được triển khai trên địa bàn 2 xã trở lên (Khoản 1 Điều 34) nhưng sự cố môi trường chỉ xảy ra ở 1 xã thì có phải dừng hoạt động và báo cáo UBND cấp xã ở các xã còn lại không; nếu đối tượng chỉ triển khai trên địa bàn một xã (Khoản 2 Điều 34) mà phải báo cáo cả UBND cấp huyện thì là không cần thiết; nếu đối tượng được triển khai trên địa bàn 2 huyện trở lên (Khoản 3 Điều 34) thì báo cáo lại không được gửi đến cơ quan quản lý môi trường cấp tỉnh - là nơi xác nhận bản đăng ký CKBVMT. Để khắc phục các bất cập này, đại biểu đề nghị sửa Khoản 2 Điều 35 như sau “2. Trong trường hợp để xảy ra sự cố môi trường phải dừng hoạt động và báo cáo ngay cho UBND cấp xã nơi xảy ra sự cố và cơ quan đã xác nhận đăng ký CKBVMT để được chỉ đạo xử lý”. Ngoài ra, để đảm bảo quy định của Luật phủ đúng, đủ các đơn vị hành chính, đề nghị thêm từ “cấp” trước từ xã, huyện ở các Khoản 1,2,3.

Năm là, về Bảo vệ môi trường trong hoạt động thăm dò, khai thác và chế biến khoáng sản (Điều 44). Tại Khoản 1, Điểm d, đại biểu đề nghị bỏ quy định các hoạt động thăm dò khoáng sản phải có Kế hoạch cải tạo phục hồi môi trường do các hoạt động này cơ bản là không phá hủy địa hình, thảm thực vật; nhưng lại cần bổ sung cụm từ “và sau khi kết thúc” để bảo đảm quá trình cải tạo, phục hồi môi trường là liên tục và phù hợp với điều kiện sản xuất. Sau khi sửa, Điểm d sẽ là: Phải có kế hoạch cải tạo, phục hồi môi trường cho toàn bộ quá trình khai thác, chế biến khoáng sản và tiến hành cải tạo, phục hội môi trường trong và sau khi kết thúc quá trình khai thác và chế biến khoáng sản”. Khoản 3 quy định máy móc, thiết bị sử dụng trong thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản phải có Chứng chỉ kỹ thuật; Đại biểu cho rằng, thực tế các cơ sở thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản có thể có đến hàng trăm loại với số lượng đến hàng nghìn máy móc, thiết bị khác nhau mà trong đó có nhiều loại thiết bị sử dụng năng lượng điện không phát thải. Do vậy, cần bổ sung thêm cụm từ “có phát thải” sau cụm từ “Thiết bị” để chỉ cần quản lý máy móc, thiết bị có phát thải cho phù hợp với thực tế và yêu cầu BVMT.

Từ thực tế Quảng Ninh - Địa phương có nhiều cơ sở thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản có quy mô lớn trong cả nước, đại biểu đã tham gia tại phiên thảo luận kỳ họp 6 về nội dung này nhưng chưa được tiếp thu, lần này đại biểu tiếp tục đề nghị ban soạn thảo xem xét thêm.

Sáu là, về BVMT trong nhập khẩu, quá cảnh hàng hóa (Điều 81). Khoản 3 cho phép nhập khẩu tàu biển đã qua sử dụng để phá dỡ, là qui định bổ sung so với Luật BVMT hiện hành, đại biểu rất băn khoăn về quy định này và nói rằng, trong báo cáo giải trình tiếp thu có lý giải cho phép nhập khẩu tàu thủy đã qua sử dụng để phá dỡ vì mục đích kinh tế và giải quyết việc làm, tuy nhiên lại thiếu những phân tích về nguy cơ ô nhiễm môi trường và thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra mà hoạt động này hoàn toàn có thể đem lại. Mặc dù có qui định phải đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật môi trường và giao Chính phủ quy định cụ thể đối tượng, điều kiện được phép nhập khẩu ,nhưng thực tế chúng ta khó có thể kiểm soát hiệu quả được việc này; khi đó, bên cạnh một số lợi ích kinh tế, việc làm như đã giải trình thì chúng ta sẽ phải đối mặt với ô nhiễm môi trường, những thiệt hại kinh tế và bức xúc dư luận do hoạt động này gây ra.

Với các lý do nêu trên, đại biểu đề nghị Quốc hội xem xét, cân nhắc hết sức cẩn trọng về qui định này.

Ngoài ra, đại biểu còn chuyển tới Đoàn Thư ký 6 nội dung khác cần quan tâm tiếp thu trong quá trình hoàn thiện dự thảo Luật

Ngô Sỹ Khảo ( VP Đoàn ĐBQH & HĐND tỉnh)

Cùng chuyên mục