Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Ninh tham gia thảo luận dự án Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Chiều 22- 5, Quốc hội nghe Bộ trưởng Bộ tài chính Đinh Tiến Dũng, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày Tờ trình dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kế toán; Chủ nhiệm Ủy ban tài chính, ngân sách của Quốc hội Phùng Quốc Hiển trình bày Báo cáo thẩm tra dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kế toán; Chủ nhiệm Ủy ban pháp luật của Quốc hội Phan Trung Lý trình bày Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Tiếp đó Quốc hội thảo luận ở hội trường về một số nội dung còn ý kiến khác nhau của dự thảo Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật; cùng tham gia phát biểu thảo luận, Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Ninh có đại biểu Ngô Thị Minh, Phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội.   

Đại
Đại biểu Ngô Thị Minh, Phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội tham gia ý kiến tại Hội trường.

Đại biểu Ngô Thị Minh đồng tình cao với nhiều nội dung được điều chỉnh trong dự thảo luật Ban hành VBQPPL trình Quốc hội kỳ này và cho rằng dự thảo Luật nếu được QH thông qua chắc chắn sẽ tạo khuôn khổ pháp lý thống nhất về việc ban hành VBQPPL từ trung ương đến địa phương, bám sát quy định của Hiến pháp 2013 và các nguyên tắc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; sẽ gắn kết chặt chẽ giữa thẩm quyền của các chủ thể được ban hành với nội dung văn bản, bảo đảm tính đồng bộ, minh bạch, khả thi, hiệu lực, hiệu quả và dễ tiếp cận; đồng thời đại biểu tham gia thêm một số vấn đề cụ thể như:

1/ Về việc quy định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân

Tại Khoản 6 Điều 6 dự thảo luật mới chỉ đề cập đến trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền trong việc chậm ban hành văn bản quy định chi tiết việc thi hành luật hoặc các văn bản trái Hiến pháp, trái luật mà chưa đề cập đến trách nhiệm của cá nhân, tổ chức trong việc chậm đăng Công báo (vì theo khoản 1 Điều 147 thì “Văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan ở TW phải được đăng Công báo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trừ trường hợp văn bản có nội dung thuộc bí mật nhà nước và các trường hợp quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 143 của Luật này”, kể cả các quy định tại khoản 2 điều này nói về việc đăng Công báo cấp tỉnh. Do vậy, đề nghị bổ sung trách nhiệm của cá nhân, cơ quan đăng Công báo vào khoản 6 Điều 6.

Đồng thời, tại Khoản 2 Điều 159 Giám sát văn bản quy phạm pháp luật, dự thảo luật chỉ mới đề cập đến việc giám sát văn bản nhằm phát hiện những nội dung sai trái hoặc không còn phù hợp mà chưa đề cập đến trách nhiệm phải giám sát cả việc chậm ban hành văn bản hướng dẫn thi hành luật. Đây là nhiệm vụ quan trọng vì từ việc chậm ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành luật đã gây nhiều trở ngại cho việc áp dụng pháp luật và cản trở việc triển khai các dự án luật vào cuộc sống như thời gian vừa qua. Đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu bổ sung nội dung giám sát việc chậm ban hành văn bản hướng dẫn thi hành luật vào khoản 2, điều 159 và coi đó là cơ sở cho việc quy kết trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chậm ban hành văn bản hướng dẫn thi hành các điều luật, đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ, hiệu lực của quy định tại Khoản 6 Điều 6.

2/ Về nguyên tắc xây dựng và ban hành VBQPPL quy định tại Điều 4

Tại Khoản 3 Điều 2 Hiến pháp 2013 ghi nhận "quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân công , phối hợp, kiểm soát giữa cơ quan nhà nước trong thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp". Như vậy sự kiểm soát trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp thể hiện hai khía cạnh: một là sự kiểm soát giữa ba quyền này với nhau; hai là kiểm soát ngay trong hệ thống của ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Đây là nguyên tắc quan trọng hàng đầu.

Từ suy nghĩ đó, đại biểu cho rằng, việc xây dựng và ban hành văn bản QPPL cần phải coi trọng  nguyên tắc đảm bảo sự phối hợp, kiểm soát giữa cơ quan nhà nước; đồng thời đề nghị Ban soạn thảo bổ sung thêm nguyên tắc này vào Điều 4 của dự thảo luật.

3/ Về việc xây dựng, ban hành thông tư của Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ nêu tại Mục 4 chương V; việc xây dựng, ban hành Nghị quyết của HĐND cấp tỉnh nêu tại Chương VIII và việc xây dựng, ban hành VBQPPL của HĐND cấp huyện.

Xuất phát từ việc xây dựng và ban hành văn bản QPPL cần phải coi trọng nguyên tắc đảm bảo sự phối hợp, kiểm soát giữa cơ quan nhà nước, đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu xây dựng cơ chế kiểm soát đối với hệ thống các loại VBQPPL này. Việc kiểm soát phải giao cho cơ quan ngoài hệ thống cơ quan hành pháp. Dự thảo luật giao cho Chính phủ kiểm tra, Chính Phủ giao cho bộ Tư pháp QLNN về công tác kiểm tra văn bản pháp luật (điều 151). Đây chỉ là cơ chế kiểm tra, quản lý trong nội bộ cơ quan hành pháp, việc này là cần thiết. Tuy nhiên phải có cơ chế kiểm soát từ ngoài hệ thống.

Thực tế hiện nay cho thấy, qua công tác kiểm tra, Cục kiểm tra văn bản pháp luật- Bộ Tư pháp phát hiện nhiều văn bản pháp luật của Bộ, ngành quy định những vấn đề thuộc trách nhiệm quản lý của ngành trái pháp luật nhưng chỉ dừng ở mức ra văn bản thông báo, kiến nghị yêu cầu cơ quan ban hành xem xét lại để tự đình chỉ việc thi hành. Nhưng trong nhiều trường hợp cơ quan ban hành không chấp nhận, cho rằng không trái pháp luật nên không tự đình chỉ việc thi hành, tiếp tục thực hiện để gây ra những hậu quả lớn hơn. Mặt khác Bộ tư pháp chỉ là cơ quan ngang cấp, lại trong cùng hệ thống, hiệu lực không đủ mạnh, có việc bị thiếu khách quan.

Vì vậy đề nghị dự thảo luật cần xây dựng "cơ chế kiểm soát ngoài hệ thống"; Quốc hội nên nghiên cứu cơ chế trước năm 2001 đã giao cho Viện Kiểm sát nhân dân kiểm sát văn bản của các cơ quan Bộ, ngang bộ, HĐND, UBND các cấp đã thực hiện rất có hiệu quả.

4/ Về thẩm quyền ban hành nội dung văn bản quy phạm pháp luật

Tại điểm e, khoản 1 Điều 13 và khoản 2 Điều 17 dự thảo luật đề cập đến các biện pháp thực hiện chính sách kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, tài chính, tiền tệ, ngân sách, thuế, dân tộc, tôn giáo...đề nghị ban soạn thảo cân nhắc bổ sung cụm từ “tín ngưỡng” vào trước cụm từ “tôn giáo” với một số lý do sau đây:

•  Điều 24 Hiến pháp quy định: Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật; Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật.

Tại Khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 70/2014/QH13, ngày 30/5/2014 của Quốc hội về điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII, năm 2014 và chương trình xây dựng luật, pháp lệnh 2015 đã bổ sung Luật tín ngưỡng, tôn giáo trên cơ sở nâng từ pháp lệnh Tín ngưỡng và tôn giáo để đưa vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII và dự thảo luật này sẽ được QH xem xét cho ý kiến vòng 1 tại kỳ họp thứ 10 diễn ra vào cuối năm 2015.

Như vậy, vấn đề tín ngưỡng chắc chắn sẽ được đặt ra và nó sẽ được đồng hành cùng vấn đề tôn giáo.

 5/ Việc thẩm tra các dự án luật liên quan đến trẻ em và việc đề nghị bổ sung quy định về lồng ghép vấn đề trẻ em và vào các dự thảo Luật.

Việt Nam đã gia nhập Công ước quốc tế về quyền trẻ em từ năm 1990. Trẻ em ở Việt Nam chiếm gần 1/3 dân số cả nước và trẻ em liên quan đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ y tế, giáo dục, văn hóa, lao động, việc làm, dân sự, hình sự, hôn nhân, gia đình, tư pháp... Hệ thống luật pháp nước ta đã có bước tiến quan trọng về việc lồng ghép vấn đề giới trong các dự án luật. Mỗi dự án luật trình ra Quốc hội, Ban soạn thảo đều phải xem xét vấn đề lồng ghép giới. Ủy ban về các vấn đề xã hội được Quốc hội giao nhiệm vụ thẩm tra vấn đề này. Về vấn đề trẻ em, để các dự án Luật của nước ta khi ban hành đảm bảo được nguyên tắc “đem lại lợi ích tốt nhất cho trẻ em” theo tinh thần Công ước Quốc tế về quyền trẻ em, đề nghị Ban soạn thảo cần bổ sung trong dự thảo luật một điều khoản quy định việc lồng ghép vấn đề trẻ em trong các dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết và phân công rõ trách nhiệm của Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng trong việc thẩm tra các dự án có liên quan đến trẻ em, bởi việc quy định này có ý nghĩa và giá trị tích cực trong việc bảo vệ quyền trẻ em nói riêng và bảo vệ, định hướng những giá trị tích cực đối với thế hệ mầm non, tương lai của đất nước nói chung. Đại biểu cũng  trích nêu quy định Khoản 1 Điều 3 Công ước Quốc tế về quyền trẻ em: “Trong tất cả những hành động liên quan đến trẻ em, dù do hành động liên quan đến trẻ em, dù do các cơ quan phúc lợi xã hội công cộng hay tư nhân, toà án, các nhà chức trách hành chính hay cơ quan lập pháp tiến hành thì lợi ích tốt nhất của trẻ em phải là mối quan tâm hàng đầu”...

6/ Về thành phần Ban soạn thảo đề cập tại Điều 51của dự thảo luật.

Đề nghị Ban soạn thảo quy định “cứng” trong luật về thành phần Ban soạn thảo các dự án luật, pháp lệnh, Nghị định,...có liên quan đến giới nhất thiết phải có thành phần là đại diện cho Trung ương Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và cơ quan QLNN về giới thuộc Bộ Lao động, Thương binh và xã hội. Tương tự như vậy, cũng nên quy định “cứng” thành phần Ban soạn thảo các dự thảo luật, pháp lệnh, nghị định có liên quan nhiều đến trẻ em phải có thành phần là đại diện cho của cơ quan QLNN về trẻ em và cơ quan đại diện tiếng nói của trẻ em.

Cùng chuyên mục