Đoàn ĐBQH tỉnh tham gia thảo luận về dự án Luật quản lý, sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh

Chiều ngày 05-6-2014, Quốc hội nghe: Chủ tịch nước trình bày Tờ trình, báo cáo của Chính phủ và báo cáo của Ủy ban đối ngoại của Quốc hội thẩm tra về việc gia nhập Công ước về quyền lợi quốc tế đối với trang thiết bị lưu động và Nghị định thư về các vấn đề cụ thể đối với trang thiết bị tàu bay (Công ước và Nghị định thư Cape Town). Tiếp đó, Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự án Luật quản lý, sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh. Cùng tham gia phát biểu thảo luận, Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Ninh có đại biểu Trần Xuân Hòa.

Đại biểu Trần Xuân Hòa phát biểu.
Đại biểu Trần Xuân Hòa phát biểu.

Tham gia phát biểu, đại biểu Trần Xuân Hòa cơ bản nhất trí với tên gọi, nội dung và phạm vi điều chỉnh của Luật được nêu trong dự thảo, đồng thời tham gia một số nội dung:

Về nguyên tắc đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp (Điều 8), đại biểu đề nghị bổ sung, chỉnh sửa Khoản 1 như sau, để đảm bảo đầy đủ, chuẩn xác và bao quát hơn: “Hình thành và duy trì doanh nghiệp tại những địa bàn hoặc ở những khâu, công đoạn trong những ngành, lĩnh vực mà các thành phần kinh tế khác không tham gia hoặc thuộc diện Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, nắm giữ cổ phần, vốn góp chi phối hoặc cần có cổ phần, vốn góp”. Nghĩa là không nhất thiết phải là những khâu, công đoạn then chốt mà là những khâu, công đoạn các thành phần kinh tế khác không tham gia hoặc thuộc diện Nhà nước nắm giữ; ngoài ra phải hình thành và duy trì doanh nghiệp tại những địa bàn mà các thành phần kinh tế khác không tham gia hoặc thuộc diện Nhà nước phải Về hình thức đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp (Điều 9), ngoài 4 hình thức đã có trong dự thảo, đại biểu đề nghị xem xét bổ sung thêm 2 hình thức sau: (1) Đầu tư góp vốn nhà nước để thành lập doanh nghiệp khác (tương tự như quy định tại Điều 27 về việc doanh nghiệp đầu tư ra ngoài doanh nghiệp); vì nếu không có hình thức này thì sẽ không có hình thức thứ 3 (Đầu tư bổ sung vốn nhà nước để tiếp tục duy trì tỷ lệ cổ phần, vốn góp tại doanh nghiệp khác). (2) Đầu tư vốn nhà nước ra nước ngoài. Vì rằng: đầu tư ra nước ngoài là rất phức tạp, hơn nữa với tiềm lực tài chính còn hết sức hạn chế của hầu hết các DN Việt Nam hiện nay và trong tương lai gần thì rất khó có thể thực hiện đầu tư ra nước ngoài. Do vậy, trong nhiều trường hợp cần có sự hỗ trợ vốn của Nhà nước đối với các DN trong nước khi đầu tư ra nước ngoài.

Về phạm vi đầu tư vốn nhà nước để thành lập doanh nghiệp (Điều 10), ở Điểm b, Khoản 1 nêu: “Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh”. Vì trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh không chỉ lĩnh vực công nghiệp mà cả nhiều lĩnh vực khác. Do vậy, đề nghị xem xét thay thế đoạn “trong lĩnh vực công nghiệp” thành “trong các lĩnh vực”. Đối với Điểm d, Khoản 1 nêu: “Doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao, đầu tư lớn, tạo động lực phát triển nhanh cho các ngành, lĩnh vực khác và toàn bộ nền kinh tế”. Quy định này chưa rõ là “DN ứng dụng công nghệ cao có vốn đầu tư lớn và tạo động lực phát triển nhanh cho các ngành …” hay “DN thuộc 1 trong 3 tiêu chí là: (1) Ứng dụng công nghệ cao; (2) Đầu tư lớn; (3) Tạo động lực phát triển nhanh cho các ngành…”. Đề nghị xem xét trình bày lại cho rõ ràng, dễ hiểu, chính xác hơn.

Về phạm vi đầu tư bổ sung vốn nhà nước tại doanh nghiệp khác (Điều 16), đại biểu đề nghị xem xét bổ sung, sửa đổi Khoản 2 thành 2 ý sau: (1) Đối với doanh nghiệp khác thuộc diện Nhà nước không cần duy trì nắm giữ cổ phần, vốn góp chi phối thì Nhà nước sẽ không đầu tư bổ sung vốn khi đã thu hút được các nhà đầu tư Việt Nam và nước ngoài tham gia; (2) Đối với doanh nghiệp khác thuộc diện Nhà nước duy trì nắm giữ cổ phần, vốn góp chi phối thì Nhà nước sẽ chỉ đầu tư bổ sung vốn ở mức đủ để duy trì nắm giữ cổ phần, vốn góp chi phối khi đã thu hút được các nhà đầu tư Việt Nam và nước ngoài tham gia.

Về việc huy động vốn (Điều 22), đại biểu đề nghị xem xét điều chỉnh quy định về bảo lãnh vay vốn theo hướng: “Tổng giá trị các khoản bảo lãnh vay vốn đối với một công ty con do doanh nghiệp nắm giữ 100% vốn điều lệ không vượt quá 50% giá trị vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp theo báo cáo tài chính quý hoặc năm gần nhất của doanh nghiệp tại thời điểm bảo lãnh” thay vì “không vượt quá giá trị vốn chủ sở hữu của công ty theo báo cáo tài chính quý hoặc năm gần nhất của công ty tại thời điểm bảo lãnh” (thay cụm từ “công ty” bằng cụm từ “doanh nghiệp”). Vì rằng: (1) Từ thực tế của Tập đoàn TKV nhiều công ty con có vốn chủ sở hữu rất nhỏ so với tổng mức đầu tư của một số dự án lớn do công ty con làm chủ đầu tư; nếu chỉ được bảo lãnh vay vốn không quá mức vốn chủ sở hữu của công ty con thì sẽ không đủ vốn đầu tư cho dự án; (2) Khi doanh nghiệp (tức công ty mẹ) bảo lãnh vay vốn cho công ty con của mình thì doanh nghiệp (công ty mẹ) cũng sẽ chịu trách nhiệm trả nợ hộ công ty con nếu công ty con không trả được nợ; do đó mức vốn vay sẽ phải ở mức vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp (tức công ty mẹ) thì mới hợp lý. Hơn nữa, cần xem xét quy định này cho phù hợp với quy định về đảm bảo an toàn vốn hiện nay là Hệ số Nợ/Vốn chủ sở hữu bằng hoặc nhỏ hơn 3.

Về phân phối lợi nhuận (sau thuế của doanh nghiệp) (Điều 34), đại biểu cho rằng, để phù hợp với quy định vốn điều lệ, cũng như tránh tình trạng doanh nghiệp còn thiếu vốn điều lệ, thiếu vốn đầu tư thực hiện các dự án đầu tư đã được duyệt nhưng lại phải nộp lợi nhuận sau thuế còn lại sau khi trích lập các quỹ theo quy định về quỹ tài chính tập trung của Nhà nước, qua đó đại biểu đề nghị xem xét điều chỉnh quy định về phân phối, sử dụng lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp như sau: “lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp được dùng để trích lập quỹ đầu tư phát triển của doanh nghiệp, quỹ khen thưởng và quỹ phúc lợi cho người lao động tại doanh nghiệp theo quy định, bổ sung vốn điều lệ (nếu còn thiếu so với mức đã được duyệt), bổ sung đủ vốn đối ứng để thực hiện các dự án đầu tư đã được duyệt của doanh nghiệp; còn dư nộp về Quỹ tài chính tập trung của Nhà nước và do Chính phủ quy định việc quản lý, sử dụng Quỹ này”. Ngoài ra, đại biểu còn đề nghị xem xét quy định về việc phân phối, sử dụng lợi nhuận, cổ tức được chia từ vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp khác theo nguyên tắc tương tự như đối với lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp nêu trên nhằm khuyến khích doanh nghiệp đầu tư và quản lý có hiệu quả vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp khác.

Về việc đánh giá, xếp loại doanh nghiệp và người quản lý doanh nghiệp (Chương VI). Để khắc phục các bất cập của “tư duy nhiệm kỳ”, đảm bảo sự hoạt động ổn định và đánh giá triển vọng của doanh nghiệp trong dài hạn, ngoài các quy định về xây dựng chiến lược, kế hoạch 5 năm và các quy định khác có liên quan, đại biểu đề nghị cần quy định: “ Báo cáo đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của DN gồm: kết quả hoạt động kinh doanh hàng năm, kết quả thực hiện kế hoạch 5 năm (cộng dồn đến năm báo cáo), kết quả thực hiện chiến lược phát triển kinh doanh (cộng dồn đến năm báo cáo); nội dung chi tiết các phần do Chính phủ (hoặc Cơ quan chủ sở hữu) quy định”...

Ngô Sỹ Khảo (VP Đoàn ĐBQH & HĐND tỉnh)

Cùng chuyên mục