Đoàn kết một lòng, ra sức thi đua, lao động sáng tạo, phát huy sức mạnh tổng hợp, quyết tâm xây dựng Quảng Ninh giàu đẹp, văn minh (*)

(Diễn văn của đồng chí Vũ Đức Đam, Uỷ viên dự khuyết Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch UBND tỉnh, tại Lễ kỷ niệm 55 năm Ngày giải phóng Khu mỏ; 35 năm Ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước)

Đoàn kết một lòng, ra sức thi đua, lao động sáng tạo, phát huy sức mạnh tổng hợp, quyết tâm xây dựng Quảng Ninh giàu đẹp, văn minh (*) ảnh 1
Màn múa hát chào mừng của sinh viên Trường Cao đẳng Văn hoá - Nghệ thuật và Du lịch Hạ Long tại lễ mít tinh.

- Kính thưa các Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng, các đồng chí lão thành cách mạng!
- Kính thưa các vị đại biểu!
- Kính thưa các đồng chí và toàn thể quân và dân trong tỉnh!

Hôm nay, trong không khí tưng bừng phấn khởi chào mừng các ngày lễ lớn của đất nước, chúng ta long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm 55 năm Ngày giải phóng Khu mỏ và 35 năm Ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Thay mặt Tỉnh uỷ, HĐND, UBND, Uỷ ban MTTQ tỉnh, tôi nhiệt liệt chào mừng các vị đại biểu, các đồng chí lão thành cách mạng, các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, Anh hùng lực lượng vũ trang, Anh hùng lao động, chiến sĩ các lực lượng vũ trang, đại biểu các tầng lớp nhân dân trong tỉnh đã về dự buổi Lễ trọng thể này.

- Kính thưa các vị đại biểu, các đồng chí và toàn thể quân dân trong tỉnh

Sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, Chính phủ Pháp buộc phải công nhận độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nước ta, toàn bộ quân viễn chinh Pháp phải rút khỏi miền Bắc Việt Nam.

Từ ngày 27-7-1954 đến ngày 8-8-1954, trước làn sóng cách mạng và khí thế đấu tranh của các tầng lớp nhân dân, thực dân Pháp đã phải rút khỏi tỉnh Hải Ninh; nhân dân nô nức đón chào bộ đội, cán bộ khởi nghĩa vào giải phóng. Tuy nhiên, hầu hết các địa phương khác thuộc đặc khu Hòn Gai và tỉnh Quảng Yên đều nằm trong khu vực tập kết 100 ngày và 300 ngày của quân đội Pháp. Trong những ngày cuối cùng trước khi cuốn cờ rút khỏi Khu mỏ, kẻ địch vẫn ráo riết phá hoại, ép buộc nhân dân di cư vào Nam, khiêu khích quân sự, di chuyển trái phép máy móc, thiết bị... Cả Khu mỏ dấy lên phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân chống địch phá hoại, bảo vệ tài sản, máy móc, thiết bị và ổn định xã hội, chuẩn bị cho ngày tiếp quản Khu mỏ.

Ngày 8-4-1955, Hội nghị chuyển giao Mỏ than Hòn Gai được ký kết, Pháp chính thức công nhận chủ quyền và bàn giao Khu mỏ cho ta. Ngày 18-5-1955, ta đã tiếp quản hành chính và nhận bàn giao khu vực Cửa Ông - Cẩm Phả. Ngày 20-4-1955, Đội cảnh vệ trật tự tiến vào tiếp quản hành chính ở Hòn Gai. Ngày 22-4-1955, nhân dân xuống đường hân hoan chào đón quân giải phóng ở Cẩm Phả - Cửa Ông.

12h ngày 24-4-1955, tên lính viễn chinh Pháp cuối cùng rút khỏi Khu mỏ. 13h cùng ngày, lực lượng quân sự, chính trị của chính quyền cách mạng tiếp quản Hòn Gai. 8h30’ ngày 25-4-1955, tại cuộc mít tinh ở thị xã Hòn Gai, Uỷ ban quân chính Khu Hồng Quảng ra mắt toàn thể nhân dân. Chủ tịch Uỷ ban quân chính Khu Hồng Quảng đã trịnh trọng đọc thư của Hồ Chủ tịch gửi đồng bào Hồng Quảng. Người viết:

“Cùng đồng bào vùng mới giải phóng Hòn Gai, Quảng Yên.

Do quân và dân ta đoàn kết, nhất trí, kháng chiến anh dũng mà chiến tranh đã chấm dứt, hoà bình đã thắng lợi, nước Pháp phải công nhận nước ta độc lập và thống nhất. Những vùng quân sự Pháp chiếm đóng từ đây đã lần lượt được giải phóng. Sau 8 năm chiến đấu, đồng bào Hòn Gai, Quảng Yên lại được sống tự do.

Đó là một thắng lợi to lớn. Tôi thay mặt Chính phủ thân ái gửi lời thăm hỏi đồng bào”.

Từ đó, ngày 25-4-1955 đã trở thành mốc son trong lịch sử cách mạng tỉnh Quảng Ninh và trở thành ngày hội truyền thống, niềm tự hào của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh ta.

Sau 55 năm giải phóng, nhìn lại chặng đường đã qua, chúng ta có quyền tự hào về những thành tựu to lớn đã đạt được trong chiến đấu, xây dựng và phát triển của tỉnh.

Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, ngay trong những năm 1954-1955 đến những năm 60, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc tỉnh ta đã nhanh chóng tiếp quản trọn vẹn khu Hồng Quảng và tỉnh Hải Ninh, tiến hành khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh, thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa, thiết lập quan hệ sản xuất mới.

Từ một nền kinh tế kiệt quệ sau chiến tranh, chỉ trong một thời gian ngắn chúng ta đã khôi phục, phát triển và xây dựng những cơ sở vật chất ban đầu của chế độ mới. Người Pháp rút khỏi Khu mỏ, đã tuyên bố: ‘“Ít ra phải 20 đến 25 năm nữa người Việt Nam mới đào được than”. Nhưng thực tế chỉ 2 ngày sau đó, anh chị em công nhân mỏ đã khôi phục được sản xuất ở các nhà máy, tầng lò, bến cảng... Sau 4 năm (từ 1955-1959), ngành Than đã khai thác được 2,4 triệu tấn than, gấp nhiều lần so với thời thực dân Pháp. Tiếp đến năm 1960, Nhà máy điện Uông Bí, niềm tự hào của ngành công nghiệp điện Việt Nam đã biến nguồn vàng đen thành nguồn điện sáng ngay trên vùng đất mỏ.

Cùng với than và điện, hàng loạt nhà máy, xí nghiệp, công trình thuỷ lợi, nông trường, trạm, trại được xây dựng. Mạng lưới giao thông được khôi phục, mở mang. ở những vùng nông thôn, nông dân được chia ruộng đất, nô nức sản xuất và tham gia các tổ đổi công. Các hợp tác xã được hình thành; thương nghiệp,  đánh bắt hải sản từng bước phát triển. Sự nghiệp văn hoá, giáo dục từng ngày tiến bộ. Từ năm 1957 đến năm 1960, nạn mù chữ cơ bản được xoá, hệ thống giáo dục được hình thành ở các địa phương. Bệnh viện cũ đã được cải tạo, bệnh viện mới được xây dựng.

Mặc dù còn muôn vàn khó khăn, thiếu thốn, hệ thống tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể quần chúng ở vùng nông thôn còn non mỏng, với tổng cộng trên 1.000 đảng viên, đa phần còn thiếu kinh nghiệm, trong khi tay chân của địch còn cài cắm vẫn tiếp tục hoạt động phá hoại, chia rẽ... nhưng với lòng tin vào Đảng, Bác Hồ và nhiệt tình cách mạng, Đảng bộ, nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã quyết tâm vượt qua mọi khó khăn, thách thức, vươn lên giành nhiều thắng lợi quang trọng, đáng tự hào trong công cuộc khôi phục phát triển kinh tế, văn hoá, xây dựng đời sống mới.

Tuy nhiên, hoà bình xây dựng chưa được bao lâu, cùng miền Bắc, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Quảng Ninh lại phải đương đầu với cuộc chiến tranh phá hoại ác liệt do đế quốc Mỹ gây ra. Vừa chiến đấu bảo vệ, vừa lao động sản xuất xây dựng quê hương, chi viện cho miền Nam ruột thịt, Đảng bộ và nhân dân Quảng Ninh ta đã lập nên nhiều chiến công oanh liệt.

Ngày 5-8-1964, trận đầu tiên giặc Mỹ tấn công bằng không quân vào thị xã Hòn Gai, quân và dân tỉnh ta đã anh dũng chiến đấu và chiến thắng giòn giã, bắn rơi 3 máy bay Mỹ, bắt sống tên giặc lái đầu tiên. Trong suốt 8 năm (1964-1972), quân và dân Quảng Ninh đã bắn rơi trên 200 máy bay Mỹ và bắt sống nhiều giặc lái, bảo vệ vững chắc bầu trời, vùng biển thân yêu của Tổ quốc.

Hàng vạn con em Quảng Ninh đã có mặt ở khắp các chiến trường, hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ và nhân dân Quảng Ninh đã hy sinh anh dũng. Nhiều tập thể, cá nhân được tuyên dương, được phong tặng Anh hùng LLVT, xứng đáng và góp phần tô đậm thêm truyền thống cách mạng rất đỗi vẻ vang của Đảng bộ, nhân dân các dân tộc Quảng Ninh ta.

Những chiến công, những tấn than, tấn cá, tấn lúa... những máu xương, những mồ hôi của người lao động chân tay và trí não Quảng Ninh ta đã góp phần to lớn vào sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

- Kính thưa các vị đại biểu, các đồng chí và toàn thể quân dân trong tỉnh!

Sau đại thắng mùa xuân 1975 lịch sử, cùng cả nước, Quảng Ninh ta với tính tiên phong của giai cấp trong từng bàn tay, khối óc bước vào quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, với quyết tâm, nỗ lực và sáng tạo, Quảng Ninh đã từ một địa phương chủ yếu dựa vào trợ cấp của Trung ương vươn lên trở thành 1 trong 6 tỉnh, thành phố có đóng góp ngân sách lớn nhất cho nền kinh tế.

Từ một tỉnh vùng núi nghèo nàn, lạc hậu vươn lên thành một trung tâm kinh tế năng động của một vùng động lực với cơ cấu kinh tế tiến bộ, tỷ trọng nông, lâm, ngư nghiệp còn trên dưới 5%. Giáo dục, Y tế, Văn hoá và nhiều ngành kinh tế, xã hội; nhiều phong trào thi đua đều được xếp vào tốp 10 địa phương dẫn đầu toàn quốc. Hệ thống hạ tầng từng bước được hoàn thiện. Tiềm lực công nghệ được nâng cao. Chính trị ổn định, quốc phòng, an ninh được giữ vững; trật tự, kỷ cương, an toàn xã hội được bảo đảm. Đời sống mọi mặt của nhân dân các dân tộc không ngừng được cải thiện.

Đặc biệt, quân và dân Quảng Ninh ta đã bảo vệ vững chắc biên cương, lãnh thổ, lãnh hải, vùng trời thiêng liêng của Tổ quốc và góp phần thực hiện thắng lợi đường lối đối ngoại rộng mở, quan hệ bình đẳng cùng có lợi vì hoà bình hợp tác và phát triển với các dân tộc trên thế giới; quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện với nước bạn láng giềng.

Ngành Than đã có sự phát triển vượt bậc cả về lượng và chất. Từ thân phận cu li của kiếp nô lệ, những người công nhân mỏ đã lột xác thành những người chủ đầy trí lực của vùng than. Từ vùng than này đi lên, TKV đã trở thành một tập đoàn kinh tế chủ lực của quốc gia, hoạt động đa ngành nghề, đa lĩnh vực với đội ngũ hùng hậu trên 100 ngàn cán bộ, công nhân viên, trong đó có hàng trăm tiến sĩ, hàng ngàn kỹ sư giỏi. Thật đúng là “trung đoàn năm xưa nay đã thành sư đoàn”.

Tự hào hơn, những người thợ mỏ đã đem tiền vốn, công nghệ, sức sáng tạo và truyền thống kỷ luật đồng tâm, truyền thống kiên trung bất khuất của vùng than Quảng Ninh thân yêu tới những miền xa xôi, thực hiện những dự án có tầm, ở những địa bàn chiến lược góp phần làm giàu và bảo vệ Tổ quốc.

Những kết quả, thành tựu to lớn và toàn diện của tỉnh ta trong 55 năm lao động và chiến đấu đã được Đảng, Nhà nước và nhân dân cả nước ghi nhận. Tỉnh Quảng Ninh chúng ta đã thực sự trở thành địa bàn động lực trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ; phên giậu vững chắc vùng Đông Bắc của Tổ quốc; và một địa danh để lại nhiều kỷ niệm tốt đẹp trong lòng du khách, bè bạn trong nước và quốc tế.

Nhân dịp này, thay mặt Tỉnh uỷ, HĐND, UBND, Uỷ ban MTTQ tỉnh, tôi xin trân trọng ghi nhận và nhiệt liệt biểu dương tinh thần, ý chí, nghị lực và sự lao động đầy sáng tạo của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ các lực lượng vũ trang, nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã lập nên những thành tích to lớn trong suốt 55 năm qua.

Tôi cũng xin được bày tỏ lòng thành kính và lòng biết ơn vô hạn của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Quảng Ninh đối với Bác Hồ kính yêu; các liệt sĩ đã anh dũng hy sinh qua các cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc; các bà Mẹ Việt Nam anh hùng; các thương, bệnh binh; những người có công với cách mạng.

Tôi cũng xin được trân trọng cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ, chỉ đạo của Trung ương, sự chia sẻ, hợp tác của các địa phương bạn, của bè bạn quốc tế.

- Kính thưa các vị đại biểu, các đồng chí và toàn thể quân dân trong tỉnh!

Kỷ niệm 55 năm Ngày giải phóng Khu mỏ cũng là dịp để quân và dân các dân tộc tỉnh Quảng Ninh hướng về ngày kỷ niệm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Cách đây 35 năm, Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 bắt đầu từ ngày 4-3 bằng ba đòn chiến lược: chiến dịch giải phóng Tây Nguyên; chiến dịch giải phóng Huế - Đà Nẵng và chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử giải phóng Sài Gòn - Gia Định, đã kết thúc thắng lợi vào ngày 30-4. Trong 55 ngày đêm với sức mạnh áp đảo về chính trị và quân sự, quân và dân ta đã giành được toàn thắng. Hơn một triệu quân ngụy và cả bộ máy ngụy quyền Sài Gòn bị đập tan.

Thắng lợi của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là thành quả vĩ đại của sự nghiệp giải phóng dân tộc do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo; là một trang chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước hào hùng của dân tộc Việt Nam ta. Nhân dân ta đã đánh thắng kẻ xâm lược lớn mạnh nhất thế giới; giành độc lập tự do, thống nhất Tổ quốc; chấm dứt ách thống trị hơn một thế kỷ của chủ nghĩa thực dân cũ và mới; đưa đất nước ta bước vào kỷ nguyên Độc lập, Tự do và Chủ nghĩa xã hội. Với vị thế trên trường quốc tế ngày một được nâng cao.

Bên cạnh niềm tự hào về những thành tựu đã đạt được, chúng ta cũng cần nghiêm túc nhìn nhận những thiếu sót, hạn chế như: Phát triển kinh tế chưa ngang tầm với tiềm năng, thế mạnh; chất lượng tăng trưởng còn hạn chế. Hiệu quả sử dụng các nguồn lực chưa cao. Văn hoá - xã hội còn chưa phát triển tương xứng và thúc đẩy kinh tế. Phương thức lãnh đạo của Đảng, quản lý nhà nước của chính quyền, hoạt động của mặt trận, đoàn thể có nơi, có mặt còn bất cập so với yêu cầu phát triển. Một bộ phận cán bộ, đảng viên có những biểu hiện tiêu cực vi phạm, chưa thực sự là công bộc của dân... Thực tiễn đó đòi hỏi chúng ta phải có quyết tâm cao cùng những giải pháp, bước đi phù hợp, phương pháp tiếp cận khoa học để khắc phục và khắc phục bằng được.

Năm 2010 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là năm cuối thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII và kế hoạch 5 năm 2006-2010, năm tiến hành Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI.

Phía trước còn nhiều khó khăn, nhưng thuận lợi là cơ bản. Thế và lực của nước nhà, tỉnh nhà đã lớn mạnh hơn rất nhiều. Thời cơ và thách thức, hợp tác và cạnh tranh luôn đan xen trong bối cảnh thế giới vận động ngày càng nhanh. Chúng ta cần chủ động, sáng tạo, trách nhiệm và quyết tâm nắm bắt cơ hội, vượt qua thách thức, đoàn kết một lòng, tập trung phấn đấu:

Thứ nhất là: Phát triển nhanh hơn, bền vững hơn, toàn diện hơn, đủ điều kiện cơ bản để trở thành một tỉnh công nghiệp vào năm 2015, về đích trước cả nước 5 năm.

Thứ hai là: Khẳng định và nâng cao vị thế của Quảng Ninh trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, trong vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ và tạo dựng các yếu tố cần thiết để trở thành một mắt xích quan trọng trong hợp tác Trung Quốc - Việt Nam - ASEAN.

Thứ ba là: Tập trung mạnh mẽ hơn nữa cho phát triển văn hoá, y tế, giáo dục, bảo đảm an sinh xã hội. Xây dựng các công trình phúc lợi công cộng tương xứng với tiềm lực kinh tế.

Thứ tư là: Bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới trên bộ, trên biển. Xây dựng khu vực phòng thủ vững mạnh, thế trận QPTD, ANND; tăng cường hợp tác đối ngoại, xây dựng khu vực biên giới hoà bình, hữu nghị, phát triển; giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội; nâng cao kỷ cương trong mọi hoạt động của đời sống xã hội.

Thứ năm là: Xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn, đổi mới phương thức lãnh đạo của tổ chức Đảng; nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy chính quyền; đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân. Đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Thường xuyên duy trì và nâng cao tính thiết thực, hiệu quả của Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Với tinh thần “Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới” và khí thế tiến công, năm 2010, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thành công Đại hội Đảng bộ các cấp và Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII, tạo sức bật mới cho sự phát triển và tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng vào đầu năm 2011.

- Kính thưa các vị đại biểu, các đồng chí và toàn thể quân dân trong tỉnh!

Tự hào về truyền thống cách mạng của Vùng mỏ anh hùng, phát huy kết quả đạt được trong 55 năm qua, chúng ta ý thức được trách nhiệm to lớn, thiêng liêng trước yêu cầu phát triển, trước nguyện vọng của nhân dân và ước mong của bao lớp người đã ngã xuống vì một niềm tin vào ngày mai và ngày hôm nay. Thay mặt Tỉnh uỷ, HĐND, UBND, ủy ban MTTQ tỉnh, tôi kêu gọi toàn thể cán bộ, đảng viên, chiến sĩ lực lượng vũ trang, các tầng lớp nhân dân trong tỉnh đoàn kết một lòng, ra sức thi đua, lao động sáng tạo, phát huy sức mạnh tổng hợp, quyết tâm xây dựng Quảng Ninh giàu đẹp, văn minh, góp phần xứng đáng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Xin chúc các vị đại biểu, các đồng chí và toàn thể cán bộ, chiến sĩ, nhân dân trong tỉnh mạnh khỏe, hạnh phúc, thành công.

- Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm!
- Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam muôn năm!
- Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta!

------------------------------------------------------------------------------
(*) Đầu đề của Báo Quảng Ninh.

Cùng chuyên mục