Đoàn Kịch Quảng Ninh: Nửa thế kỷ - Một chặng đường tự hào

Đoàn Kịch nói Quảng Ninh ra đời vào ngày 2-9-1960, được tách từ một bộ phận của Đoàn văn công tổng hợp Khu mỏ. Đây là thời kỳ cả Vùng mỏ đang hừng hực khí thế thi đua xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất nước nhà.

 Đoàn Kịch Quảng Ninh: Nửa thế kỷ - Một chặng đường tự hào ảnh 1
Cảnh trong vở diễn “Người tự xé xác” của Đoàn Kịch Quảng Ninh.
                                                            Ảnh: T.L

Không nằm ngoài dòng chảy lịch sử ấy, Đoàn đã dựng vở kịch đầu tiên là “Con gấu trẻ” - tên một loại xe chủ lực của các mỏ than hồi ấy, biểu trưng cho lớp thợ trẻ đầy dũng khí. Chất mỏ này còn thể hiện trong nhiều vở diễn sau này của Đoàn mà “Câu chuyện lò 68” của Vương Lan là một ví dụ. Năm 1962, Đoàn được về tập huấn tại Trường Đại học Sân khấu Điện ảnh một cách bài bản. Các thầy dựng liền cho Đoàn 3 vở kịch của Nguyễn Vũ (Ngô Y Linh) là “Đêm đen”, “Sài Gòn dậy lửa” và “Những viên đạn đầu tiên”. Thế là sau cái chất của thợ mỏ, Đoàn được tiếp thêm chất thời sự rực lửa đánh giặc Mỹ.

Thời kỳ chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, từ Nhà máy điện Uông Bí cho đến những vùng hải đảo xa xôi như Cô Tô đều có mặt Đoàn Kịch Quảng Ninh biểu diễn, phục vụ đồng bào và chiến sĩ. Không chỉ vậy, nhiều nghệ sĩ của đoàn đã xung kích đi B biểu diễn phục vụ tiền tuyến miền Nam như: Hồ Tháp, Hà Vân, Trọng Thịnh, Phan Long, Phạm Tuấn, Kim Thương, Phương Mai, Tô Lịch, Chí Tuất, Thuý Cầm, Thanh Hảo, Đăng Ngang... Vì tinh thần và thành tích này, Đoàn đã được trao tặng Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Ba.

Năm 1971, một lần nữa, Đoàn lại được Bộ Văn hoá - Thông tin ưu ái bổ sung cho Đoàn cả một khoá học viên kịch vừa tốt nghiệp. Có thể nói, cùng với lớp đàn anh, đàn chị, lớp nghệ sĩ này đã góp phần làm “thay da đổi thịt” cho Đoàn với những vở kịch để đời như “Sao Hôm, sao Mai”, “Đôi mắt”, “Paven Coocsaghin”, “Sao thần nông”, “Người con cô đơn”, “Người tôi chờ đợi”, “Người năm ấy”, “Ê đốp”, “Hà My của tôi”, “Nhân danh công lý”, “Người mang hai vết thương”, “Vàng”, “Khi tình yêu lên tiếng”, “Người không thể chết”... Từ những vở diễn thành công này, nhiều nghệ sĩ đã thành danh như Trọng Thịnh, Sáu Chuẩn, Hồ Tháp, Phan Long, Hà Vân, Đăng Ngang, Tô Lịch, Kim Thương, Ngọc Mỹ, Thuý Cầm, Bằng Thái, Quang Ngọc, Đồng Mai, Lan Phương, Lê Hùng, Tất Bình, Tiến Đạt, Hoàng Mai...

Ngọn gió đổi mới sau này lại tạo ra những Bắc Việt, Mạnh Hải, Mạnh Hùng, Diệu Hương, Mai Lan, Quang Thắng, Đông Yến, Bùi Phương. Và gần đây nhất là một lớp trẻ đầy triển vọng như Thái Linh, Cao Khải, Văn Chính, Quốc Dũng, Như Hạnh, Mộng Thoa, Trung Kiên, Dương Duyên. Họ đã tạo ra một diện mạo sân khấu mới với những vở gây được tiếng vang như “Lâu đài tuổi thơ”, “Biển không yên tĩnh”. “Người đàn bà uống rượu”, “Khoảnh khắc mong manh”, “Người tôi yêu”, “Lời nguyền biển”, “Đối đầu”, “Người tình nguyện” và “Người tự xé xác”.

Lớp trẻ hôm nay của Đoàn Kịch Quảng Ninh vừa phải nối tiếp truyền thống vừa phải gồng mình trước cơ chế thị trường. Họ có cách làm riêng, năng động, sáng tạo kết hợp giữa nhà nước và nhân dân cùng làm, thực hiện chủ trương xã hội hoá từng bước. Bên cạnh những vở kịch dài được đầu tư công phu, Đoàn lại dựng các vở kịch ngắn để thể hiện những vấn đề nóng bỏng của cuộc sống. Điều đáng kể nhất là Đoàn đã tiên phong trong việc đưa sân khấu vào học đường, chiếm được cảm tình của công chúng nhỏ tuổi. Tính đến nay, Đoàn đã có 5 nghệ sĩ được phong tặng danh hiệu Nghệ sỹ Ưu tú, 25 Nghệ sĩ Vùng mỏ, đã dựng được 50 vở kịch dài, 30 vở kịch ngắn với trên 5.000 đêm diễn. Trong số đó, 12 lần Đoàn từng đoạt Huy chương Vàng cho vở diễn với 50 Huy chương Vàng dành cho diễn viên tại các Hội diễn Sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc và Hội diễn khu vực duyên hải phía Bắc.

Nửa thế kỷ, một chặng đường ý nghĩa đã qua, nay Đoàn Kịch Quảng Ninh lại đứng trước cơ hội và cả những thách thức mới...