Qua kiểm tra 6 đơn vị khai thác ở 26 khu vực, mỏ cho thấy có 20 đơn vị có thiết kế mỏ, nhưng thực tế sản lượng khai thác các năm qua tăng cao hơn công suất thiết kế mà không được điều chỉnh hoặc bổ sung thiết kế. Có 6/26 khu vực, mỏ không có thiết kế mỏ được duyệt. Như Công ty Than Đèo Nai ngoài thiết kế do Liên Xô (cũ) lập từ năm 1976 đã được phê duyệt, thì năm 1995, 2005 Công ty có lập dự án đầu tư cải tạo, mở rộng sản xuất, song đến nay chưa được phê duyệt, chưa có thiết kế khai thác mỏ.
>>Môi trường bị ảnh hưởng nghiêm trọng (1)
Sản lượng khai thác luôn cao hơn thiết kế
Qua kiểm tra 6 đơn vị khai thác ở 26 khu vực, mỏ cho thấy có 20 đơn vị có thiết kế mỏ, nhưng thực tế sản lượng khai thác các năm qua tăng cao hơn công suất thiết kế mà không được điều chỉnh hoặc bổ sung thiết kế. Có 6/26 khu vực, mỏ không có thiết kế mỏ được duyệt. Như Công ty Than Đèo Nai ngoài thiết kế do Liên Xô (cũ) lập từ năm 1976 đã được phê duyệt, thì năm 1995, 2005 Công ty có lập dự án đầu tư cải tạo, mở rộng sản xuất, song đến nay chưa được phê duyệt, chưa có thiết kế khai thác mỏ. Thậm chí các khu vực khai thác lộ thiên lại nằm trong các mỏ được thiết kế khai thác cho hầm lò, do đó việc khai thác tại đây phần nào làm ảnh hưởng đến cảnh quan, môi trường, quy hoạch. Hiện trạng, sản lượng khai thác (chủ yếu khai thác lộ thiên) cao hơn công suất thiết kế mỏ, công suất thiết kế lại cao hơn công suất mà quy hoạch phát triển ngành Than được duyệt năm 2003. Trong khi đó, theo quy phạm, kế hoạch khai thác 5 năm và hằng năm được lập trên cơ sở thiết kế mỏ. Và thực tế thì kế hoạch mà TKV giao cho các đơn vị thành viên luôn cao hơn thiết kế mỏ, dẫn đến việc thiết kế mỏ luôn phải “đuổi” theo sau việc gia tăng sản lượng khai thác. Nếu có thì các dự án nhằm cải tạo mỏ là chủ yếu, nên sau khi lập và duyệt xong dự án, chưa lập được thiết kế thì sản lượng, phạm vi khai thác đã vượt ngoài dự án, thiếu cơ sở để làm thủ tục thuê đất. Đặc biệt, để tăng nhanh sản lượng khai thác trong khi năng lực thiết bị không đáp ứng được yêu cầu sản xuất, nên nhiều đơn vị phải thuê các đơn vị ngoài bốc xúc, vận chuyển than, đất, đá. Như năm 2006, Công ty Than Mông Dương thuê 38,4%, Đèo Nai thuê 26,5%, Núi Béo thuê hơn 70%... Do hợp đồng với đơn vị ngoài ngành, trả bằng than, dẫn đến một số vấn đề nảy sinh trong công tác quản lý, không kiểm soát được việc vận chuyển, tiêu thụ than trên địa bàn.
Liên quan đến sản xuất kinh doanh than là hệ thống bến bãi chế biến, tiêu thụ. Một vài năm qua, nhìn chung hệ thống này chưa có quy hoạch xây dựng hay quy hoạch tổng mặt bằng được cấp thẩm quyền phê duyệt. Do vậy phân chia manh mún, đầu tư không đồng bộ, công nghệ chế biến thô sơ, hạ tầng cảng và các công trình bảo vệ môi trường chưa được đầu tư. Một số bãi chứa than trên mặt bằng cảng còn để than tràn ra đường vận chuyển. Việc đổ xít thải sau sàng cũng chưa được quy hoạch. Có nhiều nơi đổ chất đống hoặc đổ lấn ra vùng ven biển, bờ sông, gây ô nhiễm và bồi lắng khu vực cảng. Theo kết quả đo đạc, lập bản đồ hiện trạng cụm cảng Km6 (TX Cẩm Phả) vào tháng 5-2007 cho thấy: Tổng diện tích của 12/19 đơn vị đã được UBND tỉnh quyết định cho thuê đất là 305 ngàn m2, nhưng diện tích sử dụng hiện trạng lên tới hơn 860 ngàn m2, vượt gần 560 ngàn m2. Có đơn vị chưa có giấy phép hoạt động của cảng nhưng vẫn sử dụng.
Nguyên nhân do đâu?
Trong nhiều nguyên nhân dẫn đến những bất cập nói trên có cả chủ quan và khách quan, được Đoàn Kiểm tra của Tỉnh uỷ chỉ rõ. Trong đó, dễ nhận thấy nhất là các đơn vị ngành Than tập trung đẩy nhanh sản lượng theo nhu cầu thị trường, không theo quy hoạch được duyệt. Trong khi cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất, kinh doanh, vấn đề bảo vệ môi trường và nâng cao năng lực của nội bộ chưa được chú trọng đúng mức. Việc chấp hành các quy định của pháp luật, quy định của Nhà nước trong hoạt động này của không ít đơn vị ngành Than chưa thực sự nghiêm túc. Dẫn đến tình trạng DN hoạt động nhưng thiếu thủ tục pháp lý, gây khó khăn cho việc quản lý, giám sát của cơ quan chức năng, cũng như không đảm bảo cơ sở pháp lý để giải quyết các thủ tục hành chính về đất đai, tài nguyên, khoáng sản theo quy định của pháp luật. Từ việc phân chia ranh giới mỏ của TKV chưa khoa học, nên có đơn vị thì khai trường nằm cách xa nhau, nhưng cũng có nơi khai trường chồng lấn lên nhau, nên các đơn vị được giao không rõ trách nhiệm trong quản lý đất đai, khoáng sản cũng như bảo vệ môi trường, làm cho công tác quản lý của ngành Than và địa phương gặp nhiều khó khăn. Các ngành chức năng liên quan và chính quyền địa phương nơi có hoạt động khai thác, kinh doanh than cũng chưa thực hiện hết nhiệm vụ ở nhiều việc cụ thể. Rõ nhất là cơ quan quản lý nhà nước các cấp chưa thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ được giao, nên có khâu bỏ ngỏ, nhất là trong việc giám sát các đơn vị KTKD than trong hoạt động của bến, cảng nội địa. Việc thanh kiểm tra, xử lý các vi phạm trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường chưa kịp thời, thiếu kiên quyết, hiệu quả thấp. Việc phối hợp, kết hợp giữa Sở Tài nguyên - Môi trường với các địa phương trong thực hiện chức trách liên quan đến hoạt động KTKD than chưa thường xuyên, hiệu quả hạn chế. Những năm qua, một số văn bản quy phạm pháp luật chậm được ban hành, thiếu đồng bộ, chưa đầy đủ, cũng là nguyên nhân dẫn đến những tồn tại ở trên.
Qua kết quả kiểm tra, BCH Đảng bộ tỉnh đã có kết luận, trong đó yêu cầu Đảng uỷ Than Quảng Ninh, TKV, UBND tỉnh và các sở, ban, ngành, địa phương nghiêm túc khắc phục những bất cập trong KTKD than, để hoạt động của ngành Than trên địa bàn tỉnh thực sự đóng góp lợi ích vào sự phát triển bền vững của tỉnh.