Doanh nghiệp Việt Nam đang đứng ở đâu?

Thiếu chiến lược nhất quán và tầm nhìn xa là xu hướng phát triển của cộng đồng doanh nghiệp giai đoạn vừa qua. Trong tương quan với thách thức và đối thủ cạnh tranh, phải thừa nhận tình trạng yếu kém tổng thể của doanh nghiệp nước ta. Đây là nhận xét của PGS. TS Trần Đình Thiên, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam tại hội thảo Gia nhập WTO, chương trình hành động của Chính phủ và chiến lược của doanh nghiệp do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam vừa tổ chức.

“Lớn lên” nhờ sự “lắp ghép cơ học”

Giai đoạn từ năm 2002 đến nay được xem là “thời kì bùng nổ” của số lượng doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ. Không có sự cải thiện đáng kể nào về cơ cấu doanh nghiệp theo qui mô lao động mặc dù có sự gia tăng nhất định số doanh nghiệp có qui mô trung bình. Tỉ lệ doanh nghiệp có qui mô từ 1.000 lao động trở lên giảm sút. Tại thời điểm được khảo sát gần đây, tới 96% doanh nghiệp có qui mô sử dụng dưới 300 lao động, nếu tính mốc dưới 1.000 lao động thì tỉ lệ này lên tới 99%. PGS. TS Trần Đình Thiên cho biết: - Trong số 56 doanh nghiệp được coi là có qui mô lao động lớn (5.000 lao động trở lên), doanh nghiệp nhà nước chiếm 58,9%, doanh nghiệp tư nhân chiếm 9%, còn lại thuộc thành phần có vốn đầu tư nước ngoài. Về qui mô vốn, 98,5% doanh nghiệp có qui mô vốn dưới 200 tỷ đồng, tương đương 12,5 triệu USD. Còn với mức dưới 500 tỷ đồng (99,5%), doanh nghiệp nhà nước chiếm 50%, chỉ có 13,9% doanh nghiệp tư nhân, còn lại là thành phần có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Có thể nói, tuyệt đại đa số, nếu không nói là tất cả, đáng được coi là lớn về vốn không hề có bóng dáng doanh nghiệp tư nhân dù số lượng nhóm này tăng lên nhiều.
 
Trong khi ấy, theo đánh giá của ông Thiên,  các doanh nghiệp nhà nước giảm về số lượng song tăng về qui mô nhờ nỗ lực sắp xếp lại theo hướng thành lập TCty, Cty mẹ- Cty con,  tập đoàn. Tuy nhiên, sự tăng qui mô này không đi liền với sự thay đổi căn bản về thực lực cạnh tranh và hiệu quả. Về cơ bản, sự “lớn lên” của một số doanh nghiệp nhà nước chỉ là kết quả của sự ghép nối cơ học để tạo ra các “TCty”, “Cty mẹ- Cty con” hay “Tập đoàn” từ các bộ phận rời rạc và đa phần là yếu kém.
 
- Các cuộc điều tra gần đây làm nảy sinh lo ngại về một khoảng trống trong cơ cấu doanh nghiệp. Theo đó, hai nhóm làm ăn phát đạt là loại qui mô rất nhỏ (doanh nghiệp tư nhân) và loại qui mô lớn (khu vực FDI), thiếu loại doanh nghiệp vừa. Điều này chứng tỏ tồn tại những rào cản trong phát triển doanh nghiệp, đồng thời phản ánh sức cạnh tranh hạn chế của doanh nghiệp tư nhân “quốc tịch” Việt. Với cấu trúc chưa thật mạnh, vững chắc, doanh nghiệp Việt Nam nói chung, doanh nghiệp tư nhân nói riêng thật khó tồn tại và phát triển vững chắc trong môi trường hội nhập. - Ông Thiên bày tỏ nghi ngại.
 
“Yếu kém nội địa tổng thể”

Hiện vẫn ít có điều tra qui mô lớn đánh giá sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, PGS. TS Trần Đình Thiên cho rằng vẫn có thể khẳng định doanh nghiệp, kể cả khu vực Nhà nước và tư nhân, đang chậm cải thiện khả năng cạnh tranh về vốn thấp, mà lí do là yếu kém kết cấu hạ tầng, thủ tục hành chính rườm rà, trình độ công nghệ thấp, nhân lực quản lí yếu: - Công nghệ các doanh nghiệp Việt Nam lạc hậu từ hai đến ba thế hệ so với mức trung bình của thế giới, và đó là các ngành rất quan trọng như cơ khí, chế tạo máy... Do đó, khả năng cạnh tranh của đa số sản phẩm thấp. Những sản phẩm nội như sắt, thép, phân bón, xi măng cao hơn sản phẩm nhập khẩu 20- 40%, riêng đường thô cao hơn tới 70-80%. Có thể lấy khu vực doanh nghiệp nhà nước, được coi là lực lượng nội địa có tiềm lực tài chính và trình độ công nghệ, kĩ thuật cao hơn nhiều so với doanh nghiệp tư nhân, được hỗ trợ bằng nhiều “lợi thế phát triển nhân tạo”- các ưu đãi phi kinh tế- làm minh chứng cho sự “yếu kém nội địa” tổng thể này.
 
Đến nay, doanh nghiệp nhà nước vẫn là lực lượng ít tham gia cạnh tranh thị trường. - Điểm yếu mang tính sinh tử hơn nữa là doanh nghiệp Việt Nam thiếu khả năng liên kết, thậm chí còn có sự tách rời lạ lùng giữa khu vực doanh nghiệp nội địa với khu vực doanh nghiệp nước ngoài. Thiếu kết nối, yếu kém từng doanh nghiệp tăng lên còn sức mạnh của hệ thống giảm đi làm cho doanh nghiệp Việt Nam mất cơ hội cải thiện năng lực, đồng thời mất luôn cơ hội tham gia hệ thống phân công lao động quốc tế theo cách phù hợp nhất. - Ông Thiên dự báo.

Cùng chuyên mục