Không đầy hiện vật như những cuộc triển lãm, sưu tập trước đó, cuộc trưng bày chuyên đề văn hoá biển Quảng Ninh với chỉ trên 200 mẫu hiện vật và tiêu bản sinh vật biển về các nội dung: Cá voi với biển Quảng Ninh - Nghề đánh bắt thuỷ hải sản truyền thống - Sưu tập nhuyễn thể biển, vừa được Bảo tàng tỉnh, Công ty cổ phần Quốc tế Hoàng Gia khai trương tại khu công viên quốc tế Hoàng Gia tuần qua vẫn mang đến cho khách tham quan một cái nhìn khá tổng thể về văn hoá biển Quảng Ninh.
Ngoài bộ xương cá voi vây với những thông số khổng lồ: Dài 20m, thân rộng 3m, khi mới phát hiện nặng trên 50 tấn, đã từng được nhiều người biết tới qua các cuộc triển lãm xương cá voi của Bảo tàng, bộ hiện vật động vật biển trong cuộc trưng bày văn hoá biển lần này còn xuất hiện vích Vân Đồn và bào ngư tròn có kích thước lớn hiếm thấy trên vụng biển Quảng Ninh, trai tai tượng (một trong số sinh vật quý được sách đỏ Việt Nam liệt kê)... Bộ sưu tập hình ảnh và mẫu phương tiện đánh bắt nuôi trồng thuỷ sản cũng được đánh giá khá đầy đủ với thuyền, lưới, lưỡi câu các loại. Đặc biệt trong đó có nhiều mẫu phương tiện đánh bắt và di chuyển đơn giản mà ngư dân ngày nay hầu như không còn dùng nữa. Tất cả tạo nên một không gian văn hoá biển với những mối liên kết, những yếu tố cấu thành: Hệ sinh thái thuỷ hải sản phong phú; tiến trình cải tiến phương tiện đánh bắt khai thác nguồn lợi biển, cách khai thác đặc trưng...
Khách tham quan tại cuộc trưng bày Văn hoá biển.
Theo Dư địa chí Quảng Ninh (xuất bản năm 2001), Quảng Ninh có diện tích vùng biển nội thuỷ tương đối lớn, trên 6.000km2. Bờ biển khúc khuỷu bởi nhiều vũng vịnh bị chia cắt, trong đó có 2 vịnh lớn là Hạ Long và Bái Tử Long. Với hơn 2.000 đảo lớn nhỏ đã tạo nên thế vòng cung vây gần kín bờ biển, hình thành nhiều vịnh kín và các vùng địa hình đa dạng, độc đáo. Nhờ những luồng lạch và cửa biển lớn đã đưa nước biển khơi vào sâu trong vịnh. Địa hình đáy biển tương đối bằng phẳng, độ sâu không lớn. Diện tích bãi triều, rừng ngập mặn rộng lớn của Quảng Ninh cũng chứa đựng nguồn lợi hải sản vô cùng phong phú. Theo con số thống kê của Viện Hải dương học Hải Phòng, đa dạng sinh học của bãi triều Quảng Ninh lên đến 3.500 loài thực vật ngập mặn, 45 loài thú, 105 loài cá, 54 loại rau câu, 170 loại thân mềm... Những đặc trưng trên đã tạo điều kiện thuận lợi cho hệ động vật biển vốn phong phú về chủng loại được sinh sôi phát triển. Hệ sinh thái vùng nước sâu bao gồm trên 300 loài cá tôm, cua, ốc... và những loài thú lớn như cá voi, cá heo, vích... Hệ sinh thái vùng biển triều bao gồm các quần xã sinh vật vùng đáy cứng, đáy mềm và cửa sông, trong đó vùng đáy cứng có mặt ở ven các chân đảo đá, vùng đáy mềm có các loại bãi bùn ven bờ, ven chân đảo đá, mà ở đó các loài sinh sống nhiều nhất là sá sùng, bông thùa, ngán, sò, ốc, cua...
Theo ông Trần Trọng Hà, Giám đốc Bảo tàng tỉnh, trong môi trường thuận lợi đó, cư dân Quảng Ninh đã luôn hoà nhập, biết khai thác những tiềm năng của biển. Thời hậu kỳ đá mới, nhờ làn gió ấm áp của biển cả, cư dân cổ đại đã vươn ra tụ cư ngoài trời ở các vùng cửa sông, cửa biển rộng lớn như vạn Ninh, Dân Tiến (Móng Cái), Hòn Ngò (Tiên Yên), Đồng Mang, Xích Thổ (Hoành Bồ)... Người cổ giai đoạn này còn biết tạo ra công cụ để khai thác biển như phương tiện có hình mũi nhọn dùng để cào bới hải sản. Các hiện vật thu lượm được tại các vùng biển Quảng Ninh cho thấy, cư dân cổ khi đó đã tạo cho mình một bản sắc riêng trong chế tác công cụ đá với những chiếc rìu có vai có nấc, đây là những công cụ hữu hiệu để làm ra những chiếc bè, mảng và thuyền độc mộc. Sau này, biển còn được thế hiện rõ nét trong chế tác đồ gốm với việc người Việt cổ sử dụng vỏ nhuyễn thể làm xương gốm, sáng tác hoa văn sóng nước, hoa văn in hình lưng sò, lấy những sinh vật biển làm đồ trang sức, tiêu biểu như vỏ ốc. ốc biển trở thành vật trao đổi - những đồng tiền nguyên thuỷ nhất.
Trong nhiều di chỉ thời đại kim khí trên đất Quảng Ninh đã phát hiện những công cụ tương đối hiện đại để khai thác biển như lưỡi câu, chì lưới lao ngạnh... và rất nhiều dấu tích thức ăn là động vật biển như cồn hà, sò, điệp, xương cá các loại. Nhiều nhà khảo cổ học đã nhận định đây là những tiền đề quan trọng để người Việt cổ tiến vào khai thác vùng châu thổ góp phần tạo dựng nền văn minh sông Hồng.
Ông Trần Trọng Hà cũng cho rằng để thích ứng với vùng biển rộng và nhiều động vật biển của Quảng Ninh, nghề đánh bắt hải sản phải luôn luôn được cải tiến với những phương tiện đánh bắt khác nhau. Nghề đơn giản nhất là bắt ngao, sò, ốc, hà... bằng tay, đến đánh bằng các công cụ cố định như đơm đó, đặt lờ, đánh giậm, kéo te, câu tay, câu chằng... tiến lên một bước nữa, con người biết bện vỏ cây, xe chỉ làm lưới đánh bắt theo kiểu lưới vây, đọn, chài, chã... Rồi để đánh bắt xa bờ, con người cũng đã biết tạo ra các phương tiện di chuyển trên sông biển như bè, thuyền thô sơ, giể bắt cá, thuyền 3 vách...
Văn hoá biển Quảng Ninh còn chứa đựng trong lòng nó nhiều nội dung thú vị khác như các nghề nuôi trồng, đánh bắt, chế biến thuỷ hải sản hiện đại: Nuôi trai ngọc, tu hài, làm nước mắm... những phương tiện đánh bắt, phương tiện di chuyển hiện đại khác, các sinh hoạt văn hoá trên biển, những làn điệu, những lễ hội... mà trong khuôn khổ cuộc trưng bày chuyên đề văn hoá biển lần này chưa có đủ điều kiện để đề cập đến. Hy vọng trong những chuyên đề văn hoá biển sau này, Bảo tàng tỉnh tiếp tục nghiên cứu, bổ sung để du khách được hiểu biết hơn về một không gian văn hoá Hạ Long toàn diện với những giá trị đặc trưng, độc đáo riêng có của mình.