Yên Hưng là vùng đất sớm xuất hiện dấu tích người Việt cổ. Những cuộc khai quật khảo cổ học ở Di chỉ Hoàng Tân cho biết những lớp người cư trú trên đỉnh núi Đầu Rằm, thuộc giai đoạn tương đương với Văn hoá Đồng Đậu, Gò Mun ở tỉnh Vĩnh Phú...
Điều đó cho thấy cư dân ở Hoàng Tân đã cư trú liên tục từ 3.300 năm trước đây góp phần quan trọng trong quá trình dựng nước và giữ nước Văn Lang - Âu Lạc. Ắt hẳn vùng đất này là một trong số 15 bộ của các Vua Hùng, trấn giữ vùng biển Đông Bắc...
Cuộc khảo sát của chúng tôi cùng với các nhà khảo cổ học trên đất Yên Hưng cho thấy hệ thống sông ngòi tự nhiên ở Yên Hưng đã có vai trò tích cực trong hệ thống đường thuỷ ven biển của Quảng Ninh trong lịch sử. Bắt đầu từ thời nhà Lý, trang Vân Đồn được thành lập, là địa điểm để các thuyền buôn nước ngoài trao đổi, mua bán hàng hoá. Do có đường bờ biển dài, tiếp giáp với biên giới Trung Quốc nên từ rất sớm, tuyến đường thuỷ ven biển Quảng Ninh là con đường quan trọng để các triều đại phong kiến phương Bắc sử dụng quân thuỷ tiến vào nước ta. Đồng thời, tuyến đường bộ cũng có một vai trò nhất định, nhưng không quan trọng bằng đường thuỷ. Dấu vết của hai tuyến đường thuỷ, bộ còn để lại dấu ấn, đó là một vệt dài các mộ Hán chạy từ địa phận Đông Triều, Uông Bí qua Yên Hưng, Sông Khoai tới Bắc Ninh, từ đó tiến về Thăng Long. Các đội thuỷ quân xâm lược từ phương Bắc xuất phát từ các cảng biển vùng Khâm Châu men theo đường bờ biển, qua Móng Cái, Vân Đồn, Yên Hưng, đến cửa sông Bạch Đằng, Nam Triệu, tiến vào nội địa nước ta. Các điểm xuất phát đường thuỷ của ta cũng theo tuyến này...
Những căn cứ trên là cơ sở khoa học của việc lặp đi lặp lại ‘’hiện tượng Bạch Đằng” trong lịch sử chiến tranh Việt Nam. Trong đó, càng ngày càng nhiêu chứng cứ xác nhận ‘’Bạch Đằng’’ xưa không phải là một đoạn sông cụ thể mà là một vùng cửa ngõ đường biển rộng lớn dẫn vào trung tâm đất nước từ phía Bắc. Ngày nay người ta thường nói nhiều đến trận chiến Bạch Đằng 1288 của quân dân nhà Trần chặn đánh quân Nguyên. Tuy nhiên, sử sách đã ghi nhận nhiều trận chiến từ trước đó đã gắn bó với tên tuổi Bạch Đằng như chiến thắng của Ngô Quyền, năm 938; chiến thắng của Lê Hoàn vào năm 981, đều từ cửa ngõ đường biển Bạch Đằng. Nếu chấm trên bản đồ phân bố đền thờ của Ngô Quyền, Lê Hoàn và vua quan tướng lĩnh nhà Trần liên quan đến các trận Bạch Đằng, ta dễ dàng nhận thấy các di tích đó càng ngày càng xa trung tâm đất nước (Cổ Loa, Thăng Long). Di tích có liên quan đến Ngô Quyền tập trung ở phía đông thành phố Hải Phòng hiện nay. Di tích liên quan đến Lê Hoàn nằm ở phía tây Hải Phòng và phía đông tỉnh Hải Dương hiện nay. Đến thời Trần, đường biển vào Đại Việt đã được kiểm soát từ lạch nước Vân Đồn – Cửa Lục. Và trận chiến Bạch Đằng diễn ra ở nhánh thoát xa nhất về phía bắc của hệ thống sông Thái Bình. Như vậy nghiên cứu về hiện tượng Bạch Đằng phải đặt khái niệm ‘’Bạch Đằng’’ trong một vùng không gian rộng hơn....
Lý giải về hiện tượng lặp đi lặp lại những chiến trận Bạch Đằng trong lịch sử, Tiến sĩ Nguyễn Việt, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Tiền sử Đông Nam Á, tác giả cuốn: ‘’Quân thuỷ trong lịch sử Việt Nam’’ và cũng là chủ nhiệm đề tài nghiên cứu ‘’Những phát hiện mới liên quan đến Bạch Đằng” được công bố gần đây, cho thấy: ‘’Ngay từ 4.000 năm trước, với tiềm năng thuỷ hải sản và nguồn đá quý sẵn có, vùng Bạch Đằng đã sớm trở thành vùng tụ cư buổi đầu dựng nước (....). Nhưng dường như vùng Bạch Đằng không phải là đất lúa cho cư dân Đồng Đậu, Gò Mun ở vào nửa cuối thiên niên kỷ II nửa đầu thiên niên kỷ I trước Công Nguyên. Dường như người Đồng Đậu chỉ đến Đầu Rằm khai thác hải sản mà thôi. Những người Đông Sơn dùng gốm Đường Cồ đến Bạch Đằng đông hơn cũng chủ yếu nhằm việc khai thác thuỷ sản, nhưng họ đã để lại ở vùng này những làng xóm định cư với nhiều mộ táng chôn trong thân cây khoét rỗng. Những người Đông Sơn này đã xây dựng ở vùng cửa sông Bạch Đằng những điểm dừng chân quan trọng của một cửa sông có ý nghĩa kinh tế, quân sự chiến lược’’.
Điều này bỗng bật ra khi chúng tôi chấm điểm di tích trên bản đồ nước ta vào khoảng văn hoá ‘’Lạch Trường’’ trước sau Công Nguyên. Không ngờ, vùng đất vây quanh cửa Bạch Đằng hiện nay lại là một trong những nơi có mật độ mộ táng dày đặc và giàu có vào loại nhất trong vùng. Số lượng thống kê được lên tới con số hàng ngàn mộ chôn trên các sườn núi Đèo, núi Vẹt (Thuỷ Nguyên, Hải Phòng), núi Na, Tiền An (Yên Hưng), Mạo Khê, Đông Triều, Uông Bí. Hệ thống mộ này bám theo các triền đồi, gò thuộc hệ sông Thái Bình phân bố dày đặc ở Hải Dương, Bắc Ninh, Hưng Yên tạo thành vệt tụ cư sầm uất từ cửa Bạch Đằng vào đến thành Lũng Khê (Luy Lâu, Thuận Thành, Bắc Ninh).
Khảo sát tình hình địa lý, thổ nhưỡng tại khu mộ Việt Khê, Sông Khoai, Núi Đèo... quanh cửa Bạch Đằng, chúng ta có thể đoán chắc: Sự đông đúc và giàu có của chủ nhân các mộ táng gạch ở đây không phải dựa vào nền kinh tế nông nghiệp lúa tại chỗ mà phản ánh một nền sống dựa trên thương mại là chính. Tính chất cửa cảng đã sớm xuất hiện tại vùng Bạch Đằng này....
Phát hiện về những bằng chứng tụ cư sớm và những dấu ấn mang tính chất cửa cảng lớn từ trên dưới hai ngàn năm nay tại vùng cửa sông Bạch Đằng đã giúp chúng ta lý giải nguyên nhân dẫn đến sự lặp đi lặp lại những trận chiến Bạch Đằng trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Đây cũng là cơ sở lý luận và thực tiễn để đề xuất những hướng nghiên cứu khoa học mới về lịch sử vùng đất Bạch Đằng...