Thời gian vừa qua, thông tin về việc UNESCO cảnh báo rút bằng công nhận di sản Vịnh Hạ Long do việc xây dựng Nhà máy xi măng Cẩm Phả có khả năng gây ô nhiễm môi trường khu vực di sản đã khiến dư luận quan tâm, lo lắng. Trước thông tin đó, ngày 15-8-2006, Bộ Tài nguyên - Môi trường đã cử cán bộ xuống làm việc, kiểm tra tại hiện trường.
Nhà máy xi măng Cẩm Phả theo thiết kế được phê duyệt có tổng diện tích 68 héc ta, công suất 2,3 triệu tấn/năm. Tổng mức đầu tư ước khoảng 5.000 tỷ đồng và là một trong những dự án xi măng lớn của miền Bắc. Nguyên liệu chính là đá vôi được khai thác tại mỏ đá Quang Hanh, cách nhà máy 7km, cách đường quốc lộ 18A 2-3km, cách biển 4-5km, diện tích mỏ được khai thác là 51,58 héc ta. Nguyên liệu đất sét được khai thác từ mỏ sét Hà Chanh, cách nhà máy 25km, diện tích 72,5 héc ta. Tại buổi làm việc với đoàn kiểm tra, ông Nguyễn Huy Tường, Giám đốc Ban quản lý dự án, khẳng định: Cho tới thời điểm này việc thi công nhà máy so với thiết kế, quy mô đã được phê duyệt ban đầu không có gì thay đổi. Giải thích câu hỏi liên quan tới 3 vấn đề cốt lõi là: khí bụi từ nhà máy, nước thải (gồm nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp), quá trình vận chuyển nguyên liệu, sản phẩm v.v... có gây ô nhiễm cho môi trường Vịnh Hạ Long không, ông Tường cho biết: Toàn bộ đá vôi sau khi khai thác được vận chuyển về trạm đập tại khu mỏ, đá sau đập được vận chuyển bằng băng tải kín về kho chứa tại mặt bằng nhà máy, có mái che. Việc khai thác đất sét sẽ không gây bụi và ảnh hưởng tới môi trường, vì sét được khai thác theo lớp bốc xúc trực tiếp đổ lên ô tô vận chuyển ra bến xuất và chuyển về nhà máy bằng xà lan 300 - 400 tấn. Mặc khác do sét có độ ẩm trung bình cao (18%), việc bốc xếp tại cảng sẽ bằng các thiết bị chuyên dùng và đổ trực tiếp vào phễu tiếp nhận của hệ thống băng tải kín làm giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước. Các loại nguyên liệu vận chuyển về nhà máy chứa trong các kho kín và được rút định lượng, đưa vào máy nghiền thông qua các máy rút và hệ thống chuyển tải bằng băng tải đổ vào máy nghiền. Máy nghiền là loại máy liên hợp con lăn kiểu đứng hoạt động theo chu trình kín, tại nơi phát thải bụi có lắp đặt thiết bị lọc bụi túi và lọc bụi điện. Toàn bộ khí thải từ lò nung và nguồn nguyên liệu qua buồng lắng và được xử lý bằng phương pháp lọc bụi tĩnh điện để đạt được nồng độ bụi trong khí thải nhỏ hơn hoặc bằng 30mg/m3 (nồng độ bụi trong khí thải theo TCVN là 100mg bụi/m3 khí thải). Nhà máy được lắp ráp dây chuyền công nghệ chế tạo bởi các nhà thầu Tây Âu và Nhật Bản, đảm bảo cao về mặt kỹ thuật.
Hệ thống đường dẫn ra cảng xuất và nhập dài 4km, trong đó cảng nhập nguyên liệu cách nhà máy 1 km với đường dẫn rộng 10m. Cảng xuất được xây dựng tại vị trí cách bờ 4km, cạnh luồng Lạch Buộm và đã được sự cho phép của cơ quan chức năng. Nước thải công nghiệp và nước thải sinh hoạt của nhà máy sẽ được dẫn tới bể xử lý trung tâm bằng hệ thống ống dẫn, sau đó được xử lý qua hệ thống khuấy, trộn, lắng, lọc, tách bùn và khử trùng trước khi thải ra Vịnh, đảm bảo TCVN 5945-1955. Trong quá trình xây dựng, các chất thải tuyệt đối không vận chuyển ra ngoài hay thải xuống biển mà được xử lý tại chỗ, thu gom chôn lấp. Lãnh đạo Ban Quản lý Dự án còn cho biết sẽ tôn tạo Hòn Một trong khu vực nhà máy thành hòn non bộ, trồng cây xanh để bảo vệ môi trường. Đặc biệt sẽ trồng sú vẹt với diện tích rộng 50m tính từ chân bờ kè và kéo dài 1km dọc theo bờ kè của nhà máy. Như vậy qua kết quả kiểm tra của đoàn cán bộ Bộ Tài nguyên - Môi trường cho thấy: Việc tuân thủ báo cáo đánh giá về tác động môi trường đã được Bộ KHCN-MT (nay là Bộ Tài nguyên - Môi trường) phê duyệt năm 2002 vẫn được chấp hành nghiêm túc. Duy chỉ có thiếu sót theo như ông Tường thừa nhận, đó là chưa tiến hành quan trắc trong quá trình thi công. Hiện tại Nhà máy vẫn đang thi công và cho tới giờ, các mỏ nguyên liệu cũng chưa triển khai gì và việc vận chuyển nguyên liệu cũng chưa được tiến hành. Tất nhiên, trong quá trình thi công cũng như đi vào hoạt động sau này, sự tăng cường giám sát của các cơ quan bộ, ngành chức năng sẽ là yếu tố cần thiết để có thể đạt 2 mục đích: vừa đảm bảo phát triển kinh tế, vừa không ảnh hưởng tới công tác bảo tồn di sản.