Đừng để “cái sảy nảy cái ung”

Tháng 9-1998, anh Trần Xuân Quý có mua của ông Trần Đức Ngữ một gian nhà cấp 4 có công trình phụ là bể nước, bếp, nhà vệ sinh trên diện tích 68m2 tại ô số 21, tổ 33, khu cầu Sến, xã Phương Đông (nay là phường Yên Thanh), Uông Bí với giá 40 triệu đồng.

Ông Ngữ đã nhận đủ tiền, tự tay viết giấy chuyển nhượng cho anh Quý (có người làm chứng là anh Vũ Văn Xanh), sau đó bàn giao nhà, đất và các giấy tờ có liên quan. Sau khi nhận nhà, đất, anh Quý đã làm thêm 52m2 nhà khung gỗ, lợp prô xi măng để mở xưởng cơ khí, riêng công trình phụ vẫn giữ nguyên. Năm 2001, UBND phường Yên Thanh và Phòng địa chính thị xã đã kiểm tra đo thực địa thấy rằng ngoài diện tích mua của ông Ngữ, anh Quý còn sử dụng dôi dư 16,9m2 đất. Sau đó vợ chồng anh được UBND thị xã xét bán phần đất dôi dư này với giá 2,602 triệu đồng (ngày 12-3-2004, anh đã nộp tiền vào NSNN). Đến giữa năm 2003, vợ chồng anh cải tạo xây dựng lại toàn bộ nhà xưởng mới bằng khung sắt lợp tôn, diện tích khoảng 84m2 với giá trị công và vật liệu xây dựng hết 100 triệu đồng. Năm 2006, do mở rộng địa bàn sản xuất, kinh doanh, vợ chồng anh đã mượn đất của ông Lưu Minh Bân làm nhà vừa ở vừa sản xuất kinh doanh. Cũng trong năm 2006, anh Trần Xuân Hà (là em trai anh Quý) lấy vợ, một thời gian sau có đặt vấn đề với vợ chồng anh Quý xin ở nhờ tại nhà xưởng, thương em hoàn cảnh mới kết hôn nên anh chị đã đồng ý cho mượn ở nhờ nhà đất tại tổ 33, khu cầu Sến từ đó. Tháng 5-2008, do thời hạn mượn đất của ông Bân đã gần hết, vợ chồng anh Quý nhiều lần đề nghị anh Hà trả nhà xưởng và đất nhưng anh Hà không trả và thiếu hợp tác  nên vợ chồng anh Quý đã khởi kiện ra Tòa đòi anh Hà phải trả lại tài sản là nhà xưởng gắn liền quyền sử dụng đất cho mượn, cho ở nhờ tại tổ 33, khu cầu Sến, phường Yên Thanh (Uông Bí).

Tại  phiên tòa sơ thẩm ngày 16-4-2009, anh Trần Xuân Hà có lời khai cho rằng diện tích 68m2 đất mua của ông Trần Đức Ngữ (trên đất có gian nhà cấp 4, bể nước) là tài sản chung của 3 người là anh Quý, chị Cúc và mẹ anh là bà Cậy nhưng anh không cung cấp cho tòa các tài liệu có giá trị pháp lý để xác định nhà - đất đã mua của ông Ngữ là tài sản chung như khai báo của anh.

Tại cấp sơ thẩm, chị Cúc, chị Loan (chị em ruột với các anh Trần Xuân Quý và Trần Xuân Hà) đều có lời khai cho rằng các chị là những người đã trực tiếp giao dịch với ông Ngữ và có đóng góp tiền cùng anh Quý để mua đất nhưng khi vợ chồng anh Quý khởi kiện vụ án đòi lại quyền lợi của mình thì các chị lại từ chối tham gia tổ tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập khi TAND thị xã Uông Bí báo gọi. Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án do các đương sự giao nộp không có tài liệu nào thể hiện ông Ngữ chuyển nhượng diện tích 68m2 đất cho chị Cúc hay người khác ngoài anh Quý; cũng không có tài liệu nào nói lên việc anh Quý, chị Cúc, chị Loan đóng góp tiền mua chung diện tích 68m2 đất của ông Ngữ, trong đó có cả tiền chị Cúc đi vay để rồi phải bán nhà, đất của bà Lê Thị Cậy (mẹ các đương sự) lấy tiền trả nợ vay đó.

Chính vì vậy, tại phiên tòa sơ thẩm, TAND thị xã Uông Bí đã xử buộc anh Hà phải trả lại anh Quý và chị Hạ toàn bộ nhà xưởng diện tích 85,57m2 trên diện tích 67,89m2 tại thửa số 24, tờ bản đồ số 9 thuộc tổ 33, khu cầu Sến, phường Yên Thanh. Không đồng ý với Quyết định trên, anh Hà và anh Quý, chị Hạ đều có đơn kháng cáo lên TAND tỉnh QN.

Ngày 9-6-2009, TAND tỉnh đã mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án “kiện đòi nhà xưởng gắn liền với quyền sử dụng đất cho mượn, cho ở nhờ”. Qua những cơ sở chứng cứ được cung cấp, Hội đồng xét xử đã quyết định không chấp nhận kháng cáo của anh Hà; chấp nhận kháng cáo của anh Quý, chị Hạ, sửa bản án sơ thẩm. áp dụng điều 103 và điều 113 Luật Đất đai; điều 255, điều 256 Bộ Luật Dân sự, tuyên xử buộc anh Hà phải trả anh Quý, chị Hạ toàn bộ nhà xưởng khung thép mái tôn diện tích 85,57m2 trên tổng diện tích đất 84,9 m2(bao gồm 68 m2 đất mua của ông Ngữ và 16,9m2 đất mua do UBND thị xã Uông Bí cấp bán hợp thức hóa đất dôi dư). Sau khi bản án phúc thẩm có hiệu lực, anh Quý, chị Hạ đã nhiều lần gửi đơn đến Chi cục thi hành án dân sự thị xã Uông Bí và Cục thi hành án dân sự tỉnh đề nghị đôn đốc thi hành án. Anh Quý, chị Hạ cũng đã đồng ý chi phí tiền thuê nhà 1 năm cho anh Hà với mức giá từ 300-500 nghìn đồng/tháng và xin nuôi dưỡng mẹ già. Mặc dù chấp hành viên Chi cục thi hành án dân sự thị xã Uông Bí nhiều lần đôn đốc, vận động anh Hà tự nguyện thi hành án nhưng anh Hà vẫn cố tình trây ỳ, thậm chí tránh mặt, hoặc nếu có mặt cũng không ký vào biên bản làm việc dẫn đến khó khăn trong thi hành án.

Cuối tháng 4 vừa qua, vợ chồng anh Quý, chị Hạ lại tiếp tục có đơn yêu cầu thi hành án gửi đến các cơ quan chức năng. Trong đơn anh chị đã trình bày rõ khó khăn của mình: Hiện tại gia đình chúng tôi đang sống lang thang nay chỗ này, mai chỗ khác, các con học hành không được quản lý thường xuyên. Tình trạng này dễ dẫn đến gia đình bị ly tán. Nếu cơ quan pháp luật không giải quyết kịp thời thì chắc chắn anh em ruột thịt chúng tôi sẽ xảy ra xô xát làm mất đạo đức, mất trật tự an ninh xã hội, vi phạm pháp luật. Do vậy, chúng tôi khẩn thiết mong các cơ quan sớm  thực hiện việc thi hành án để chúng tôi được sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật.

Vẫn biết đây là vụ việc có tính chất phức tạp, người phải thi hành án lại là em ruột của người được thi hành án. Tuy nhiên, Chi cục thi hành án dân sự thị xã Uông Bí cũng cần phải tổ chức thi hành dứt điểm bản án để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân, đừng để “cái sảy nảy cái ung”.                                

Cùng chuyên mục