Một trong những nội dung quan trọng để Quảng Ninh thực hiện thành công Chỉ thị 06/CT-TW của Ban Bí thư T.Ư Đảng về củng cố hoàn thiện màng lưới y tế cơ sở là đẩy mạnh công tác phấn đấu đạt chuẩn quốc gia về y tế xã.
Với sự chủ động tích cực của nhiều địa phương, sự đầu tư mạnh mẽ của tỉnh, hệ thống y tế tuyến xã trên địa bàn đã có chuyển biến rõ nét trong việc nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho người dân.
Kiểm tra sức khoẻ cho người dân tại Trạm Y tế phường Trần Phú (TP Móng Cái).
Nhiều năm về trước, Trạm Y tế xã Kỳ Thượng (Hoành Bồ) còn là căn nhà gỗ dột nát, trang thiết bị đơn sơ, nhân lực thiếu thốn. Trạm nằm trên triền đồi, mỗi lần đến đây, người dân phải lội qua con suối quanh năm ngập nước; mùa mưa, nước suối cuồn cuộn, rất nguy hiểm. Việc chăm sóc sức khoẻ của người dân trông chờ phần lớn vào đội ngũ cán bộ y tế xã, vì Kỳ Thượng nằm cách trung tâm huyện hơn 40 cây số, giao thông chưa thuận tiện. Đến năm 2006, Trạm Y tế được chuyển vị trí về trung tâm, thuận lợi cho đi lại, được đầu tư xây dựng khang trang theo chương trình chuẩn quốc gia về y tế của tỉnh và chương trình 135. Không phải mỗi Kỳ Thượng, trên địa bàn tỉnh khi đó còn rất nhiều trạm y tế khó khăn, xuống cấp, dột nát… Trước năm 2003, toàn tỉnh có 90% số trạm không đạt chuẩn về cơ sở hạ tầng, số cán bộ y tế hiểu biết về y học cổ truyền còn hiếm hoi, việc quản lý, chăm sóc người tàn tật nhiều nơi chưa hiệu quả; có tới 60% số xã chưa đạt chuẩn về sử dụng nước sạch, hố xí sạch, rác thải... nhất là vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Tính đến hết năm 2002, mới chỉ có 30,6% số xã, phường có bác sĩ; 56/183 trạm (hiện là 186 trạm) được trang bị bộ dụng cụ khám chuyên khoa... Xác định để nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ cho người dân, trước hết phải nâng cao hiệu quả khám, chữa, phòng trừ dịch bệnh ngay từ tuyến cơ sở, tháng 4-2003, tỉnh chính thức triển khai Chương trình xây dựng chuẩn quốc gia về y tế xã, với sự chỉ đạo sát sao của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh, sự vào cuộc quyết tâm của nhiều địa phương. Ban chăm sóc sức khoẻ nhân dân từ tuyến tỉnh đến xã được tăng cường, củng cố; truyền thông giáo dục sức khoẻ được coi trọng; công tác phòng chống dịch và triển khai các chương trình mục tiêu y tế quốc gia được làm tốt. Nhờ đó, ý thức bảo vệ sức khoẻ cho chính mình của người dân được nâng lên rõ rệt, mọi người đã chú trọng hơn đến vệ sinh phòng bệnh, vệ sinh môi trường nơi ăn, ở. Các trạm y tế xã tăng cường hơn việc giám sát phòng chống dịch. Nhiều trạm y tế đã thực hiện tốt việc theo dõi, lập hồ sơ quản lý sức khoẻ cho người cao tuổi; triển khai chương trình phục hồi chức năng tại cộng đồng; chăm sóc người tàn tật. Đặc biệt công tác chăm sóc sức khoẻ trẻ em, sức khoẻ sinh sản ở các xã được quan tâm, tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi tiêm đủ 6 loại vắc xin trong tỉnh luôn đạt trên 95%; phụ nữ mang thai đến kỳ sinh nở hầu hết sinh tại trạm y tế hoặc có bác sĩ, nữ hộ sinh đỡ đẻ tại nhà. Để đảm bảo phục vụ khám, chữa bệnh cho người dân, ngành Y tế đã trang bị các bộ dụng cụ cơ bản và bộ dụng cụ khám chuyên khoa cho các trạm y tế… Các trạm đảm bảo cơ cấu nhân lực tối thiểu theo quy định. Đội ngũ y tế thôn bản cũng được củng cố, nâng cao kiến thức; 100% thôn, bản có cán bộ y tế hoạt động…
Khó khăn lớn nhất trong lộ trình phấn đấu đạt chuẩn quốc gia về y tế xã của các địa phương là các tiêu chí về cơ sở vật chất và bác sĩ. Để giải quyết tình trạng này, từ năm 2003, bằng nguồn kinh phí tỉnh đầu tư, ngành Y tế đã phối hợp với Trường Đại học Y Hải Phòng đào tạo bác sĩ tuyến xã; vận động cán bộ y tế tuyến xã đi học nâng cao trình độ. Nhờ vậy, đến nay, 147/186 trạm đã có bác sĩ biên chế; các xã còn lại được bác sĩ tuyến tỉnh, tuyến huyện về tăng cường. Nhiều địa phương đã chủ động nguồn vốn đối ứng của mình để đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị cho trạm y tế tuyến xã. Tiêu biểu như huyện Đông Triều, mỗi năm dành 600 triệu đến 2 tỷ đồng, cùng với nguồn vốn của tỉnh đầu tư cho các trạm; đồng thời huy động xã hội hoá để đầu tư trang thiết bị hiện đại, như máy siêu âm, máy điện tim ở Trạm Y tế xã Yên Đức, một số trang thiết bị khác ở Trạm Y tế xã Hồng Thái Đông... Các địa phương Móng Cái, Cẩm Phả, Hoành Bồ… cũng chủ động trong nguồn vốn đối ứng đầu tư cho y tế tuyến xã. Đến năm 2009, đã có 142 xã trên địa bàn tỉnh đạt chuẩn quốc gia về y tế; trong đó Móng Cái, Đông Triều, Uông Bí hoàn thành chương trình này. Tỉnh cũng tăng cường đầu tư một số thiết bị y tế hiện đại cho các trạm để nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, đảm bảo tiêu chuẩn khám chữa bệnh bảo hiểm y tế. Năm 2010, tỉnh đầu tư 34 máy điện tim, 40 máy siêu âm xách tay và một số máy xét nghiệm sinh hoá cho những trạm có đủ điều kiện. Để đảm bảo trình độ chuyên môn của cán bộ trạm y tế theo yêu cầu của xã, phường, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế, Sở Y tế đã mở các lớp đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý, chuyên môn cho các trạm y tế; năm 2010 còn tổ chức 2 lớp đào tạo, bồi dưỡng về xét nghiệm, siêu âm, điện tim, để cán bộ các trạm y tế sử dụng tốt các thiết bị mới được đầu tư. Với quyết tâm hoàn thành chương trình đạt chuẩn y tế xã vào năm 2010, tỉnh đã cấp đầu tư 140 tỷ đồng cho 44 trạm y tế tuyến xã chưa đạt chuẩn để đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị… Nhờ vậy đến nay, tất cả các xã, phường trên địa bàn đều đạt chuẩn quốc gia về y tế xã.
Mạng lưới y tế cơ sở được củng cố, nâng cao chất lượng đã giúp người dân tin tưởng hơn khi đến các trạm y tế khám, chữa bệnh, giảm tình trạng bệnh nhân vượt tuyến. Tuy nhiên, đến thời điểm này, một số trạm y tế đạt chuẩn giai đoạn 2004-2005 đã bắt đầu xuống cấp về cơ sở vật chất, trang thiết bị. Để duy trì đạt chuẩn quốc gia về y tế, luôn cần sự vào cuộc tích cực của các cấp, các ngành trong việc duy tu, bảo dưỡng cơ sở vật chất, trang thiết bị các trạm, nâng cao trình độ đội ngũ y tế tuyến xã, tăng cường vận động quần chúng nhân dân thực hiện nhiều chỉ tiêu liên quan (vệ sinh môi trường, y tế học đường...).