Tập đoàn Điện lực Việt Nam EVN đang đối mặt với khó khăn về vốn và cơ chế để triển khai xây dựng 44 nhà máy trong giai đoạn từ năm 2006 đến 2015. Ông Phạm Lê Thanh, Tổng giám đốc EVN trao đổi với VTC News chi tiết về vấn đề này.
- Ông có thể cho biết nhu cầu về vốn để phát triển ngành điện từ nay đến 2015 như thế nào?
- Ngày 18/7/2007, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định 110, phê duyệt phát triển điện VN giai đoạn IV từ 2006 đến 2015. Trong giai đoạn này nước ta phải tăng 58.000 MW. Thủ tướng giao cho ngành điện lực Việt Nam (EVN) xây dựng 33.000 MW, còn lại các nhà đầu tư ngoài EVN sẽ cung cấp 25.000 MW.
Để hoàn thành kế hoạch này, EVN sẽ phải xây dựng khoảng 44 nhà máy, trong đó, 19 nhà máy hiện nay đang được xây dựng. Như vậy chúng tôi sẽ phải xây dựng thêm 25 nhà máy nữa. Tổng nhu cầu vốn đầu tư trong giai đoạn 2006 – 2015 là 690.000 tỷ đồng, tương đương với 40 tỷ USD.
Nhu cầu vốn như vậy thực sự là một gánh nặng đối với ngành điện. Bằng mọi cách chúng tôi phải huy động được các nguồn vốn đầu tư, từ vốn tự có, vốn khấu hao, hay vốn từ việc phát hành trái phiếu, vốn vay tín dụng ưu đãi, vốn ODA hay vay tín dụng thương mại của các nhà tài trợ nước ngoài.
- Theo ông những vấn đề gì là trở ngại nhất để EVN thực hiện mục tiêu của quyết định 110 này?
- Chúng tôi cũng đang xem xét và trình Thủ tướng Chính phủ về một số khó khăn khác ngoài vốn.
Thứ nhất đó là vấn đề thủ tục. Hiện nay, các nguồn điện lớn đang vào Việt Nam vì vậy có các trung tâm điện lực lên đến 4.000 Mw. Mỗi dự án bình quân 1.000 – 1.200 Mw, với giá cả như hiện nay trên thị trường thì khả năng vượt 20.000 tỷ đồng cho 1 dự án là rất lớn.
Tuy nhiên, theo quy định của Quốc hội là với các dự án có giá trị vượt quá 20.000 tỷ đồng thì phải trình cho Quốc hội để xem xét thông qua. Về vấn đề này EVN cũng sẽ phải báo cáo Thủ tướng để trình lên Quốc hội để tìm cách tháo gỡ nhằm triển khai nhanh được dự án.
Khó khăn thứ 2 là việc cung cấp nguồn nguyên liệu cho sản xuất điện.
Hiện nay chúng ta dùng nhiệt điện là chính và về cơ bản trước năm 2015 chúng ta sẽ khởi công hết các dự án. Chúng ta phải dựa vào nguồn nguyên liệu từ than là chủ yếu trong giai đoạn 2010 – 2020. Mà nguồn than trong nước dự kiến đến năm 2010 – 2013 là bắt đầu không đáp ứng được. Vì vậy trong giai đoạn 2010 – 2013 chúng ta phải xem xét vấn đề nhập khẩu than. Chúng ta sẽ phải xem xét nhập khẩu từ các nước quanh khu vực như Indonexia, Úc...
Với việc nhập khẩu than từ các nước như thế này thì chúng ta lại phải xem xét liệu nguồn than có đủ không, họ có sẵn sàng cung ứng cho chúng ta không? Và ở đây sẽ nảy sinh vấn đề vận chuyển. Chúng ta phải có những hệ thống cảng nước sâu có thể tiếp nhận được tầu từ 10 vạn tấn đến 20 vạn tấn. Khi ấy giá than mới chấp nhận được để phát điện.
Còn lưới điện nguyên tử thì chỉ có khả năng xuất hiện vào năm 2020 trở đi.
- Ông có thể khái lược về quy hoạch điện lực IV?
- Đây là quy hoạch điện lực trong 10 năm (2006 -2015), EVN lấy phương án cơ sở cho tăng trưởng điện là 17%, tăng trưởng phương án cao là 20% và sẵn sàng với phương án 22% nếu như sự điều hành hiệu quả của Chính phủ để kinh tế tiếp tục tăng trưởng cao.
Chúng tôi gọi đó là tổng sơ đồ. Trong đó, EVN phải chịu trách nhiệm là 57%, ngoài ra các đơn vị ngoài EVN kể cả nhà đầu tư nước ngoài chiếm 43% nữa.
Theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ “phát triển nguồn điện phải đi trước một bước, để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đáp ứng nhu cầu điện cho sinh hoạt của nhân dân, đặc biệt là giữa ổn định về nguồn điện để duy trì đầu tư từ nước ngoài.
- Xin cảm ơn ông.