Năm 2006, ông Nguyễn Đình Lưỡng, trú tại tổ 1, khu Nam Trung, phường Nam Khê, TX Uông Bí (nay là TP Uông Bí) đã làm đơn khiếu nại lên UBND TX Uông Bí yêu cầu hợp thức hoá, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (CNQSDĐ) cho toàn bộ diện tích 158,2m2 của gia đình ông đang sử dụng.
Theo đơn ông Lưỡng trình bày: Thửa đất của gia đình ông có nguồn gốc từ đất của bà Vân (mẹ vợ ông) cho bà Nguyễn Thị Dung (chị vợ ông) từ năm 1976, có kích thước bám mặt đường 18A là 39m. Sau khi bà Vân mất, gia đình bà Dung đã bán đi 14m, còn lại 25m và tự phân chia như sau: Bà Nguyễn Thị Dung 16m (gồm 2 ô 219 và 220); ông Nguyễn Đình Lưỡng 9m (ô số 218) giáp với hồ nước. Thửa đất này của gia đình ông đã được xác định tại Biên bản xác định ranh giới, mốc giới, diện tích thửa đất (lập ngày 14-11-2003), Hồ sơ địa chính tại thửa đất số 73, Bản đồ địa chính số 53, phường Nam Khê, TX Uông Bí. Nhưng UBND TX Uông Bí chỉ công nhận và cấp giấy CNQSDĐ số 85 (ngày 16-4-2004) cho 67,5m2 trong tổng số 158,5m2 hiện trạng sử dụng đất của gia đình ông.
Hiện phần đất được giao đã được gia đình ông Lưỡng mở điểm rửa xe máy.
Theo UBND TP Uông Bí: Mảnh đất có diện tích 90,7m2 mà ông Lưỡng đang làm đơn khiếu nại là đất lấn chiếm, không phải đất có nguồn gốc từ đất của bà Vân cho từ năm 1976. Bởi lẽ tại giấy phép sử dụng đất và xây dựng nhà số 23 ngày 30-4-1988 của UBND TX Uông Bí cấp cho hộ ông Dương Danh Gia (chồng bà Dung) thửa đất có diện tích 230m2 và một ao có diện tích 165m2, thể hiện vị trí: Phía đông giáp hồ nước, phía tây giáp nhà ông Nguyễn Đình Lưỡng, phía nam giáp nhà ông Huy, phía bắc cách mép đường 18A là 13,5m. Như vậy, về phía đông thửa đất của ông Gia là hồ nước do địa phương quản lý, không hề có đất vườn, ao của bà Vân để lại cho ông Lưỡng như ông đã trình bày trong đơn. Hơn nữa vào khoảng năm 1992, ông Lưỡng đã bán thửa đất số 218 có diện tích 120m2 cho gia đình ông bà Thu - Tuyền. Sau đó, vào những năm 2000 và 2001, trong quá trình nâng cấp đường 18A và làm cầu, gia đình ông Lưỡng đã tự ý lấn chiếm ra phía hồ nước giáp với ô đất số 220 của gia đình bà Dung và đã bị UBND phường Nam Khê xử phạt vi phạm hành chính vào năm 2001. Vì thế, vào năm 2004, UBND TX Uông Bí chỉ công nhận và cấp giấy CNQSDĐ cho 67,5m2 đất của gia đình ông Lưỡng, phần còn lại là 90,7m2 đất nằm trong hành lang bảo vệ an toàn cầu, nên UBND TX Uông Bí không cấp.
Cũng theo UBND thành phố, từ năm 1988 đến 1991, gia đình ông Gia đã lấn chiếm ra hồ nước 262m2 đất. Năm 1998, ông Gia có làm đơn xin hợp thức hoá phần đất đã lấn chiếm, nhưng UBND TX Uông Bí không đồng ý vì ông đã có giấy cấp đất năm 1988. Vì thế, càng khẳng định, việc ông Lưỡng cho rằng 90,7m2 đất của gia đình ông giáp hồ nước là đất thổ cư là không có căn cứ. Một trong những lý do mà ông Lưỡng đưa ra và cho đây là căn cứ để xác định 158,8m2 đất của gia đình ông là đất thổ cư, là thửa đất 158,5m2 của gia đình ông đã được xác định trong Biên bản xác định ranh giới, mốc giới, diện tích thửa đất lập ngày 14-11-2003. Để làm rõ điều này UBND TX Uông Bí tiến hành xác minh hồ sơ đất, rà soát lại, và cho rằng việc UBND phường Nam Khê khi ký Biên bản ranh giới, mốc giới, diện tích thửa đất đối với gia đình ông Nguyễn Đình Lưỡng, là không đúng. Vì vậy, ngày 16-3-2006, UBND TX Uông Bí đã ban hành Quyết định số 700 với nội dung không chấp nhận nội dung khiếu nại của ông Nguyễn Đình Lưỡng, khẳng định phần diện tích 90,7m2 đất không phải đất thổ cư của gia đình ông Lưỡng. Biên bản xác định ranh giới, mốc giới, diện tích thửa đất theo hiện trạng sử dụng đất của ông Nguyễn Đình Lưỡng được UBND phường Nam Khê xác nhận ngày 14-11-2003 chỉ là cơ sở để trình Hội đồng Đăng ký quyền sử dụng đất của phường và thị xã xét duyệt, trình UBND TX Uông Bí cấp giấy CNQSDĐ. Nhưng do lãnh đạo UBND phường Nam Khê và cán bộ giúp việc đã không xem xét kỹ, nên đã ký Biên bản xác nhận ranh giới, mốc giới, diện tích thửa đất. Quyết định số 700 của UBND TX Uông Bí đã nêu rõ: “Không phê duyệt đổi cấp giấy CNQSDĐ cho ông Nguyễn Đình Lưỡng tại tổ 1, khu Nam Trung, phường Nam Khê. Giao cho Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố thu hồi biên bản xác nhận ranh giới, mốc giới, diện tích thửa đất do UBND phường Nam Khê ký ngày 14-11-2003 của gia đình ông Nguyễn Đình Lưỡng”. Đồng thời yêu cầu Phòng Tài nguyên và Môi trường và UBND phường Nam Khê tiến hành xác định lại diện tích đất của gia đình ông Lưỡng và báo cáo về UBND TX Uông Bí.
Không đồng tình với Quyết định số 700 của UBND TX Uông Bí, năm 2006, ông Nguyễn Đình Lưỡng tiếp tục gửi đơn khiếu nại lên UBND tỉnh. UBND tỉnh đã giao cho Sở Tài nguyên và Môi trường, sau đó là Thanh tra tỉnh tiến hành xác minh, thu thập hồ sơ và làm rõ vụ việc.
Sau khi tiến hành thu thập, xác minh tài liệu, hồ sơ hiện trạng sử dụng đất của gia đình ông Lưỡng, năm 2009, Thanh tra tỉnh đã có báo cáo gửi UBND tỉnh: Khẳng định phần đất có diện tích 90,7m2 mà ông Lưỡng cho là đất thổ cư là không đúng, phần đất này là do ông Lưỡng tự ý lấn chiếm ra hồ nước thuộc quyền quản lý của HTX nông nghiệp (cũ) phường Nam Khê và hiện nay nằm trong hành lang an toàn cầu và hành lang an toàn đường bộ. Việc UBND TX Uông Bí cấp giấy CNQSDĐ cho ông Nguyễn Đình Lưỡng thửa đất diện tích 67,5m2 ngày 16-4-2004 là đúng theo quy định của pháp luật tại thời điểm đó. Đồng thời kiến nghị UBND TX Uông Bí hoàn thành việc quy hoạch khu dân cư tại phường Nam Khê đã được UBND tỉnh phê duyệt và sớm có phương án tạm giao hay thu hồi để quản lý phần diện tích 90,7m2 nói trên. UBND tỉnh đồng ý với báo cáo, đề xuất của Thanh tra tỉnh, giao cho UBND TX Uông Bí giải quyết.
Đến nay, UBND TP Uông Bí đã giao phần đất có diện tích 90,7m2 nói trên cho gia đình ông Nguyễn Đình Lưỡng với mục đích sử dụng là trồng cây lâu năm. Hiện người nhà gia đình ông Lưỡng tận dụng mặt bằng phần đất nói trên để mở dịch vụ rửa xe máy. Đây là cách giải quyết “hợp lý, hợp tình” được gia đình ông Nguyễn Đình Lưỡng đồng tình.