Vì làm báo, quản lý báo với cung cách của một “trích tiên”, một “Á Đông Khổng Tử chi đồ” nên sự nghiệp làm báo của Tản Đà không thể vươn xa như Vũ Bằng, Nhất Linh dù ông có công đào tạo nên nhà báo, nhà văn hiện thực xuất sắc là Nguyễn Công Hoan.
Nhìn lại quãng đời xông pha trường văn, trận bút của mình, Tản Đà chua chát viết:
Khi làm chủ bút, lúc viết mướn,
Hai chục năm dư, cảnh khốn cùng.
Lập kỷ lục
Ông viết báo từ năm 1913 trên tờ “Đông Dương tạp chí” của Nguyễn Văn Vĩnh và nhanh chóng nổi tiếng trên văn đàn. Năm 1916, ông lấy bút danh Tản Đà và chính thức chọn nghề viết lách, trở thành nhà thơ, nhà văn, nhà báo có phong cách đặc biệt. Năm 1920, ông cộng tác cho “Nam Phong tạp chí” của Phạm Quỳnh.
Do Phạm Quỳnh phê phán tư tưởng của cuốn “Giấc mộng con”, Tản Đà không cộng tác nữa. Năm 1921, ông làm chủ bút cho "Hữu Thanh tạp chí" của Hội Bắc Kỳ thì tờ này đình bản. Năm 1926, ông lập ra “Tản Đà thư cục”, cho xuất bản “An Nam tạp chí”.
Ngày 1/7/1926, tờ “An Nam tạp chí” số đầu tiên ra đời do Tản Đà làm chủ báo và Ngô Tất Tố làm thư ký tòa soạn. Tờ báo đã lập hai kỷ lục trong nền báo chí nước ta: Tờ báo chuyên về văn học đầu tiên của Việt Nam, tờ báo “chết” chính thức vào ngày 1/3/1933, qua 6 lần đình bản và tái bản trong vòng 7 năm với 48 số.
Nguyên nhân “cái chết” của "An Nam tạp chí", ngoài lần đình bản đầu tiên vì lý do chính trị (vì bài viết “Một cuộc chiến tranh người An Nam khởi đầu từ năm Đinh Mão”, số 10 - 1926), những lần còn lại đều là do thiếu tiền, vỡ nợ. Người gây nên tình cảnh trên không ai khác hơn là chính chủ báo Tản Đà.
Tản Đà thấy rõ ảnh hưởng to lớn của báo chí với xã hội và vai trò của người làm báo. Ông từng viết: “Các báo quán đã là một đạo quân tiên phong trong trậ̣n tiến thủ của xã hội, thời phàm các người viết văn trong báo giới đều là một tên lính ở trong đội tiên phong.
Oai nghiêm thay! Hùng dũng thay! Một ngọn bút sắt tung hoành có quan hệ đến vận hội của đồng bào hai mươi lăm triệu. Vậy thời trước khi chúng ta cầm ngọn bút mà viết một bài văn xã thuyết, thời đàm, vận văn, tiểu thuyết đều nên phải hết sức trân trọng, tưởng như có mấy trăm nghìn độc giả đứng xung quanh...”. Nhưng rồi chính cung cách làm báo tài tử của ông đã khai tử tờ báo.
Không biết quản lý, chi tiêu lung tung
Cái tính cách lãng mạn, hứng làm mệt nghỉ, tiêu tiền như nước, ăn nhậu hết mình của Tản Đà không hề thay đổi từ lúc là cộng tác viên, phóng viên hay chủ báo. Làm chủ báo cũng là làm kinh doanh, nhưng Tản Đà dường như không có ý niệm gì về vận hành tờ báo, sắp xếp bài vở, quản lý chi tiêu, khiến cho An Nam tạp chí nhiều phen đóng cửa vì thiếu tiền thuê nhà, tiền in báo và thậm chí thiếu cả bài mà đưa đi nhà in.
Tản Đà kể lại về tình cảnh của "An Nam tạp chí" trước khi bị đình bản lần đầu tiên: “Tiền ăn tiêu hàng tháng không có sổ chi tiêu, một là tạp chí về công việc tòa báo, hai là nuôi người nhà làm, ba là cung tiếp tân khách, lại bằng khi phóng phiếm vô ích, mỗi tháng không biết là bao nhiêu?
Vì mỗi tháng không biết bao nhiêu tiền chi tiêu cho nên không bao lâu mà tòa tạp chí An Nam lại như thể cái thành bị vây vậy? (Giấc mộng lớn). Ông chủ bút cứ mơ rằng: “Ước sao tháng tháng sẵn tiền/ Tiền nhà cứ tháng ta liền đóng ngay/ Tiền nhà nay đã đóng rồi/ Ta pha ấm nước, ta ngồi ngâm nga...”.
Làm báo tùy hứng, ăn nhậu vô tư
Đã vậy, Tản Đà lại còn say sưa ngật ngưỡng tối ngày. Trong “Tản Đà ở Nam Kỳ”, nguyên thư ký tòa soạn Ngô Tất Tố đã xác nhận: “Đành rằng nếu không có rượu thì ông Tản Đà sẽ không phải là ông Tản Đà, nhưng trong khi nó làm cho ông Tản Đà thành ông Tản Đà, chính nó cũng là thủ phạm làm cho "An Nam tạp chí" không có bài đưa nhà in. Bấy giờ "An Nam tạp chí" xuất bản mỗi tháng hai kỳ, nhưng mấy tháng sau nó đã đảo lại: mỗi kỳ hai tháng...”.
Lưu Trọng Lư kể lại những “gian truân” để được tiếp kiến ông chủ báo "An Nam tạp chi": “Tôi đến lần thứ nhất vào khoảng tám giờ sáng”. Tên tiểu đồng cho tôi biết rằng ông chủ nhiệm đang ngủ. Mười giờ tôi trở lại, tôi cũng không thấy may mắn gì hơn, nhà thi sĩ vẫn chưa dậy.
Mười một giờ tôi lại đến, nhà nho vẫn còn giấc. Tôi đành tự hẹn mình đến chiều. Hai giờ rưỡi tôi đến, Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu đã dậy và mới bắt đầu ngồi vào chiếu rượu. Bốn giờ tôi bước vào, thì hình như thi sĩ vừa... hạ đũa”.
Trong “Tôi với Tản Đà thi sĩ”, Phan Khôi, người được xem là khắc tinh với Tản Đà trên văn đàn, viết: “Cái lối đánh chén của ông Hiếu kề cà mất thì giờ lắm, tôi không chịu được, nên ít khi tôi ngồi trọn bữa rượu với ông. Ông đem hỏa lò để ở bàn mà tự làm lấy món ăn, khi mãn một tiệc ăn người nhà phải thay than trong hỏa lò đến năm sáu bận. Thường thường một mình ông vừa ăn uống lại vừa viết nữa. Ông cho có thế mới là thú”.
Ăn nhậu như thế thì thời gian đâu để Tản Đà làm bài? Theo Lâm Tuyền Khách trong “Một tháng với Tản Đà” thì ban ngày Tản Đà không làm việc, chỉ uống rượu, nói chuyện hay đọc sách, đến nửa đêm ông mới trở dậy thắp đèn viết cho đến sáng. Trong tờ báo nhiều khi độc giả thấy những bài Tản Đà viết đang liền mạch, tự nhiên bị bỏ dở trong một thời gian dài mới thấy viết tiếp.
Bởi làm báo tùy tiện và thiếu chuyên nghiệp nên cuối cùng, như Xuân Diệu nói: “Nhưng một lần kia An Nam tạp chí ra chậm quá chừng, chậm vô cùng, chậm không thể tưởng tượng được: Tạp chí không ra nữa”.
Cứng đầu, tự phụ
Chúng tôi thử đi tìm nhưng không thể nào nhận diện được cái nơi ở Sài Gòn mà 80 năm trước Tản Đà cùng Ngô Tất Tố đã thuê ở để viết cho tờ Đông Pháp thời báo của ông Diệp Văn Kỳ sau khi An Nam tạp chí bị đình bản ngoài Bắc. “Cái nhà của chúng tôi ở kế tiếp với Xóm Gà, nó là một nơi nhà quê thuộc làng Bình Hòa, cách Bà Chiểu độ 4 cây số và cách Sài Gòn độ 10 cây số”.
Ngô Tất Tố kể rằng khi phụ trách phần văn chương cho Đông Pháp thời báo, Tản Đà thường tối ngày uống rượu, mọi công việc giáo phó cho ông cử Tùng Lâm. Một hôm vì thiếu bài, ông cử Tùng Lâm mới phải thêm vào một bài thơ lá cải.
Báo ra, bị Tản Đà hạch hỏi, ông cử Tùng Lâm giải thích rằng vì thiếu bài, báo cần lên khuôn mà không thể xuống tận Xóm Gà để hỏi bài. Tản Đà tức giận mắng: “Nếu thiếu bài thì bỏ trắng đấy cho tôi. Không xin phép tôi mà cho bài thơ kia vào, như thế là ông hỗn!”.
Có lần cự nhau, “phóng viên” Tản Đà nói với “tổng biên tập” Diệp Văn Kỳ rằng: “Ông muốn tôi vào đây viết văn hay bửa củi, nếu bửa củi thì lúc nào bửa cũng được. Bằng viết văn thì phải đợi hứng, không hứng không thể viết”. Vài ngày sau ông trả nhà về Bắc, không một lời từ giã.
Trong Người ghét Tản Đà - tạp chí Văn, số đặc biệt về Tản Đà, 1971, Vũ Bằng thuật lại lời của Ngô Tất Tố than thở về Tản Đà: “Không có tiền thì rầu rĩ, oán trách, rũ người ra như con cú, thế mà một khi có tiền thì lại không muốn làm việc gì hết, chỉ uống và ăn, hết ăn lại uống.
Chưa uống thì bảo không có rượu như cái máy không xăng nhớt không chạy được, uống vào sau rồi thì nằm khoèo ra ngủ và lý luận một mình rằng say mà làm việc thì hỏi đời còn có cái gì thú nữa?”
Tản Đà còn có tính tự phụ, Ngô Tất Tố kể: “Không biết nghe lời anh em khuyên bảo. Cái số anh em thành thực khuyên ông rất hiếm, còn cái số nâng ông lên, sợ cái tài ông mà không dám làm mích lòng ông thì cả đống. Vì có nhiều kẻ nịnh ông một cách mù quáng như thế, ông bị hại mà không biết, mỗi ngày mỗi tự phụ thêm lên...”
Chết trong nghèo túng
Vì làm báo, quản lý báo với cung cách của một “trích tiên”, một “Á Đông Khổng Tử chi đồ” nên sự nghiệp làm báo của Tản Đà không thể vươn xa như Vũ Bằng, Nhất Linh dù ông có công đào tạo nên nhà báo, nhà văn hiện thực xuất sắc là Nguyễn Công Hoan. Từ sau khi An Nam tạp chí đình bản vĩnh viễn, cuộc sống của Tản Đà vốn đã nghèo túng càng trở nên thiếu thốn, phải chạy ngược chạy xuôi để kiếm sống.
Ông phải đăng quảng cáo trên báo với nội dung: “Nhận làm thuê các thứ văn vui, buồn, thường dùng trong xã hội”, rồi mở lớp dạy Quốc văn hàm thụ, Hán văn diễn giảng nhưng không có học trò, mở ngôi hàng đoán số tử vi Hà Lạ cũng không có khách. Và rồi Tản Đà qua đời ngày 17/6/1939 (ở tuổi 51) vì bệnh gan, để lại vợ và tám đứa con.