Sau thời điểm UBND tỉnh Quảng Ninh ra Quyết định số 825/QĐ-UBND ngày 14-3-2007 về việc phê duyệt Đề án quy hoạch, sắp xếp lại các cảng và bến thuỷ nội địa tiêu thụ than và lộ trình cho phép xe vận chuyển than hoạt động trên các tuyến đường giao thông, chúng tôi đã đến tìm hiểu tình hình hoạt động ở một số cảng trên địa bàn Cẩm Phả.
Có thể nói Cẩm Phả là vùng than lớn, sản lượng ra than hàng năm chiếm tỷ trọng 65% so với toàn ngành. Trong nhiều năm trước đây, nhất là trong những năm cuối của thế kỷ trước do thị trường tiêu thụ trong nước chưa có nhu cầu lớn, phải bươn trải trong việc bán than dẫn đến tình trạng các đơn vị sản xuất than đồng loạt bung ra mở các cảng lẻ bán than cho các hộ tiêu thụ. Do vậy khó cho việc quản lý, lại phải qua nhiều đoạn đường vận chuyển than gây bụi bặm ô nhiễm môi trường.
Để đáp ứng tiến trình tăng tốc nâng sản lượng than hàng năm trong những năm đầu thế kỷ 21, đồng thời hạn chế tới mức thấp nhất tình trạng ô nhiễm môi trường do sản xuất và vận chuyển than gây ra, cách đây vài nămUBND tỉnh đã yêu cầu dẹp bớt các cảng ở gần khu vực nội thị, đông dân cư như cảng Vũng Đục, một số cảng lẻ và bến bãi tập kết than khác, trên cơ sở đó tập trung đầu tư quy hoạch vào các cụm cảng lớn. Quyết định này bước đầu đã có tác dụng tốt. Nhưng hiềm nỗi chưa có đường chuyên dùng, việc vận chuyển than vẫn qua một số đường trên quốc lộ 18, tập trung chủ yếu ở khu vực Quang Hanh, công trường 10-10 cũ, Cọc Sáu thuộc địa bàn Cẩm Phả và từ Mông Dương đến Cửa Ông nên tình trạng vận chuyển than trên địa bàn Cẩm Phả gây ô nhiễm môi trường vẫn còn là vấn đề bức xúc.
Từ thực trạng nói trên, việc UBND tỉnh ra Quyết định số 825/QĐ-UBND ngày 14-3-2007, phê duyệt đề án quy hoạch sắp xếp lại các cảng và bến thuỷ nội địa tiêu thụ than là rất phù hợp và mang tính chiến lược lâu dài. Theo đề án, trên địa bàn Cẩm Phả chỉ còn 4 cụm cảng có sức tiêu thụ lớn. Cụ thể là Cảng Cửa Ông: Bao gồm khu vực Cầu Cảng và Cảng chuyển tải Hòn Nét với quy mô đảm bảo cho tàu có trọng tải tối đa 70.000 DWT làm hàng. Cảng chuyển tải Hòn Nét đầu tư thiết bị bốc xếp công suất 15.000 tấn/ngày phục vụ cho các tàu có trọng tải 100.000 DWT làm hàng. Khả năng thông qua Cảng Cửa Ông là 15 triệu tấn/năm. Cụm Cảng Km6 với quy hoạch thành cụm cảng lâu dài cho xuất than, có đường chuyên dùng để vận chuyển than đến Cảng với khả năng thông qua bến 5 triệu tấn/năm, đảm bảo cho tàu có trọng tải từ 1.000-2.000 DWT cập bến làm hàng. Cụm Cảng Khe Dây-Mông Dương-Cẩm Phả, với quy hoạch thành cụm cảng lâu dài cho xuất than; dạng bến: Bến liền bờ, tường trọng lực, kết hợp cầu tàu bê tông cốt thép vĩnh cửu, đảm bảo cho tàu có trọng tải tối đa 2.000 DWT cập bến làm hàng; khả năng thông qua bến 5 triệu tấn/năm, đến năm 2010 là 10 triệu tấn/năm. Cụm Cảng Cẩm Thịnh (Cầu 20) với quy mô bến: Tường trọng lực, bến liền bờ vĩnh cửu, đảm bảo cho tàu trọng tải 250 tấn cập bến làm hàng, sản lượng thông qua cảng 3 triệu tấn/năm.
Tìm hiểu thực tế cho thấy các cụm cảng nói trên đã và đang được đầu tư với quy mô lớn theo hướng phát triển lâu dài. Cụ thể là Cảng Cửa Ông đã được đầu tư kéo dài bờ cảng, khơi sâu luồng lạch và đầu tư thiết bị hiện đại có công suất lớn bốc rót than xuống tàu. Cụm Cảng Khe Dây (Tổng Công ty Đông Bắc), ngoài việc đầu tư mở rộng cảng, còn quy hoạch hợp lý nơi tập kết than và các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Cảng Cầu 20 thuộc Công ty Cổ phần Kinh doanh Than Cẩm Phả đã được quy hoạch với 7 cầu tàu rót than cho các Công ty than lớn: Đèo Nai, Cọc Sáu, Thống Nhất và một số đơn vị thuộc Tổng Công ty Đông Bắc. Hiện nay, ngành Than đang tiến hành làm đường chuyên dùng vận chuyển than từ khu vực Công trường 10-10 cũ của Cọc Sáu ra ngoài phía biển đi về Cửa Ông nên rất tiện lợi cho việc vận chuyển than đưa ra Cảng Cầu 20 thời gian tới. Riêng cụm Cảng Km6 có tới 7-8 đơn vị tiêu thụ và kinh doanh tại khu vực này nên khó cho việc quản lý, chưa kể không tập trung đầu tư nên cơ sở hạ tầng còn manh mún gây ảnh hưởng đến môi trường.
Được biết, hiện nay Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV) đã tích cực triển khai làm đường chuyên dùng vận chuyển than từ khu vực 10-10 Cọc Sáu đến Cửa Ông và đường chuyên dùng ở khu vực Quang Hanh đi cắt ngay trục đường giao thông 18 ra cảng Km6. Đoạn cắt qua đường quốc lộ này đã được lắp đặt đèn tín hiệu nhằm đảm bảo an toàn giao thông cho người và xe qua lại. Quyết tâm của TKV, là đến hết năm 2007 sẽ chấm dứt tình trạng xe vận chuyển than trên đường 18A. Tại khu vực 10-10 Cọc Sáu, tỉnh Quảng Ninh đã tính toán triển khai làm cầu vượt để khắc phục tình trạng dừng các phương tiện giao thông khi tàu vận chuyển than trên hệ thống đường sắt cắt ngang qua đường 18.
Có thể nói những nỗ lực cố gắng của TKV và tỉnh Quảng Ninh trong việc quy hoạch sắp lại các cảng và bến thuỷ nội địa tiêu thụ than sẽ góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường trong khai thác và vận chuyển than. Nhưng để thực hiện tốt đề án mà UBND tỉnh đã phê duyệt nói trên, TKV cũng cần phải đầu tư hơn nữa để nâng tầm quy mô các cụm cảng, nhất là Cảng Km6 phải thống nhất vào một mối quản lý. Có như vậy việc hình thành các cụm cảng và bến thuỷ nội địa được xác định rõ chức năng, quy mô, công suất và đảm bảo trật tự trong vận chuyển, tiêu thụ than trên địa bàn.