Góp phần nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh trên địa bàn

Ngành y tế tỉnh hiện quản lý 21 bệnh viện, trung tâm y tế tuyến tỉnh; 20 đơn vị y tế tuyến huyện. UBND địa phương quản lý 14 phòng y tế, 186 trạm y tế tuyến xã. Trên địa bàn tỉnh còn có 1 bệnh viện trung ương, 2 bệnh viện ngành Than và 1.106 cơ sở hành nghề y dược tư nhân (tính đến tháng 6-2009).

Với một mạng lưới y tế phủ rộng như vậy, việc đẩy mạnh chủ trương xã hội hoá công tác y tế  trong toàn ngành đã  tạo sự “chạy đua” triển khai kỹ thuật mới trong công tác dự phòng và điều trị  ở đơn vị y tế các tuyến trên địa bàn, góp phần đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu điều trị của người bệnh.

>> Xã hội hóa các lĩnh vực văn hóa, y tế, giáo dục, thể thao giai đoạn 2005-2010: Những kết quả khả quan.

Các bác sĩ Tổ chức Châu á - Thái Bình Dương và Trung tâm Phòng chống bệnh xã hội tỉnh phối hợp mổ thay thuỷ tinh thể tại Bệnh viện Đa khoa thị xã Cẩm Phả.

Các bác sĩ Tổ chức Châu á - Thái Bình Dương và Trung tâm Phòng chống bệnh xã hội tỉnh phối hợp mổ thay thuỷ tinh thể tại Bệnh viện Đa khoa thị xã Cẩm Phả.

Ngay khi có các nghị quyết, quyết định của trung ương và tỉnh về công tác xã hội hoá, từ năm 2006 Sở Y tế đã xây dựng đề án xã hội hoá công tác y tế trình Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, UBND tỉnh phê duyệt, đồng thời triển khai rộng rãi ở các đơn vị y tế trong toàn ngành. Việc xã hội hoá công tác y tế đã tạo động lực để hệ thống y tế tư nhân phát triển mạnh mẽ, phủ rộng, giúp người dân thuận tiện trong việc tiếp cận các dịch vụ khám chữa bệnh. Hiện trên địa bàn tỉnh có 719 cơ sở hành nghề y tế tư nhân và 387 cơ sở hành nghề dược. Các phòng khám đa khoa tư nhân dần có đội ngũ bác sĩ đa khoa, chuyên khoa sau đại học có năng lực trình độ, được trang bị máy móc, thiết bị hiện đại. Tính từ năm 2006 đến nay, các cơ sở y tế tư nhân đã đầu tư hơn 95 tỷ đồng  mua sắm thiết bị phục vụ khám và điều trị.

Sự vươn lên mạnh mẽ của hệ thống y tế tư nhân đòi hỏi các đơn vị y tế công lập cũng phải năng động hơn trong hoạt động. Nhiều thiết bị giúp cho việc chẩn đoán, điều trị kỹ thuật cao  được huy động từ công tác xã hội hoá tại các bệnh viện, như: Máy cộng hưởng từ hạt nhân, máy chạy thận nhân tạo, máy đo độ loãng xương, máy xét nghiệm tế bào máu tự động v.v... đã phục vụ đắc lực trong công tác chẩn đoán, điều trị bệnh. Đến thời điểm này, toàn tỉnh đã có 17 đơn vị  trực thuộc Sở Y tế thực hiện mô hình liên kết với các công ty và huy động vốn đóng góp của cán bộ, viên chức lao động trong đơn vị để mua các thiết bị kỹ thuật hiện đại, phục vụ công tác khám, chữa bệnh. Tổng nguồn vốn huy động theo những hình thức này lên tới hơn 70,3 tỷ đồng, trong đó hơn 60,4 tỷ đồng là vốn nhà đầu tư.  Đây là số tiền lớn, nếu chỉ trông chờ vào ngân sách của tỉnh, T.Ư thì khó thực hiện được.

Bên cạnh đó, các bệnh viện còn tiến hành thực hiện mô hình khám, chữa bệnh theo yêu cầu, như: Khám chữa, bệnh ngoài giờ hành chính; mời bác sĩ giỏi của bệnh viện tuyến trung ương, bác sĩ nước ngoài (Nhật); kết hợp với các chuyên gia nước ngoài, bệnh viện đầu ngành trung ương để hướng dẫn và triển khai các trang thiết bị chẩn đoán, điều trị bằng kỹ thuật mới, như: Kỹ thuật nội soi phế quản; soi tai, mũi, họng; mổ nội soi tiêu hoá, gan mật, sản khoa; cắt u nang buồng trứng; phẫu thuật vi phẫu tai;  mổ mở các ca ung thư đường tiêu hoá khó v.v... Một số bệnh viện còn tiến hành thành lập mới khoa, phòng điều trị tự chọn tại bệnh viện. Ngoài liên doanh liên kết và góp vốn của CBVC, ngành y tế còn tranh thủ nguồn lực của các tổ chức từ thiện, phi chính phủ trong đầu tư cơ sở vật chất và hỗ trợ hoạt động khám, chữa bệnh. Thông qua việc huy động này, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam đã hỗ trợ Bệnh viện Lao và Phổi 12 tỷ đồng mua máy chụp cắt lớp vi tính, xe chụp X. Quang di động. Tổ chức Phòng chống mù loà Châu á - Thái Bình Dương, Hội Bảo trợ người nghèo TP Hồ Chí Minh hỗ trợ kinh phí, đầu tư trang thiết bị, mổ thay thuỷ tinh thể cho hơn 2.000 người cao tuổi trên địa bàn. Tổ chức phi chính phủ  tài trợ cho các hoạt động y tế, chủ yếu là khám, chữa bệnh, phòng bệnh... hơn 40 tỷ đồng. Nhiều đơn vị y tế còn thực hiện tốt chế độ tự chủ tài chính, nhờ đó nguồn thu sự nghiệp từ công tác khám, chữa bệnh của các đơn vị tăng đáng kể. Năm 2006, nguồn thu sự nghiệp của các đơn vị y tế (thu bảo hiểm y tế, thu viện phí, thu dịch vụ khác) được hơn 97 tỷ đồng, năm 2008 trên 201 tỷ đồng (tăng 161% so với ngân sách nhà nước cấp) và năm 2009 ước đạt 220 tỷ đồng.

Ngoài đầu tư  thiết bị, trang sắm cơ sở vật chất... Sở Y tế chỉ đạo các đơn vị chú trọng nâng cao năng lực tay nghề cho đội ngũ CBVC. Từ năm 2006 đến nay, toàn ngành đã cử  gần 1.500 cán bộ y tế đi đào tạo đại học, sau đại học, cao đẳng điều dưỡng, bồi dưỡng nghiệp vụ v.v... Để khắc phục tình trạng thiếu bác sĩ, ngành còn phối hợp với các cơ sở đào tạo, như: Trường Đại học Y dược thuộc Đại học Thái Nguyên; Đại học Y Hải Phòng... mở các lớp cử tuyển chính quy theo địa chỉ bằng hình thức xã hội hoá, kinh phí đào tạo do gia đình học sinh tự chi trả cho nhà trường theo hợp đồng cam kết. Trong năm 2006-2007 và 2007-2008 đã có 74 học sinh đào tạo theo hình thức này với kinh phí gia đình đóng góp hơn 1,46 tỷ đồng.

Có thể nói xã hội hoá công tác y tế đã thực sự tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong các đơn vị y tế ở tất cả các tuyến trên địa bàn tỉnh, góp phần nâng cao quy mô và năng lực cung ứng dịch vụ của hệ thống y tế. Nhiều kỹ thuật mới, kỹ thuật cao đã được thực hiện, làm cho trình độ kỹ thuật y tế của tỉnh đang dần tiến bộ ngang với nhiều bệnh viện trung ương. Người dân, trong đó cả người nghèo, trẻ em, các đối tượng chính sách xã hội đã có điều kiện tiếp cận tốt hơn với các dịch vụ y tế. Lượng bệnh nhân tới khám và điều trị không ngừng gia tăng, cho thấy người bệnh đã tin tưởng hơn vào tay nghề, kỹ thuật của các đơn vị y tế trên địa bàn. Tuy nhiên, theo đánh giá của một số bệnh nhân đến khám, điều trị tại các cơ sở y tế trên địa bàn thì nhiều đơn vị y tế có máy móc, thiết bị y tế hiện đại, cơ sở vật chất khang trang, thậm chí còn vượt cả một số bệnh viện tuyến trung ương, song trình độ tay nghề vẫn còn ở mức hạn chế, dẫn đến khó khăn trong chẩn đoán chính xác bệnh, chẩn đoán bệnh chậm. Đây cũng là vấn đề cần được các đơn vị y tế trên địa bàn lưu tâm hơn trong quá trình thực hiện xã hội hoá công tác y tế tại đơn vị mình.