Hải Long du ký hay chuyện du lịch Vịnh Hạ Long của một điền chủ Bạc Liêu xưa

Cách đây 71 năm, tức năm 1937, có một điền chủ ở Giá Rai (Bạc Liêu) tên là Trần Hữu Tư - một người yêu thích văn học và du lịch đã cùng bạn bè tổ chức một chuyến du lịch đến Vịnh Hạ Long.

Chuyến đi đáng nhớ này đã được ông ghi chép lại trong cuốn sách Hải Long du ký (Hải Long là một trong những tên gọi của Vịnh Hạ Long thời bấy giờ), xuất bản năm 1941 với mục đích “biếu bà con bạn hữu”. Nhân chúng ta đang vận động bầu chọn cho Vịnh Hạ Long là 1 trong 7 kỳ quan thiên nhiên thế giới, Báo Quảng Ninh xin giới thiệu bài viết này của ông Trần Hữu Tư nhằm giúp bạn đọc hiểu thêm về cách người xưa đi du lịch Vịnh Hạ Long...

Hải Long du ký hay chuyện du lịch Vịnh Hạ Long của một điền chủ Bạc Liêu xưa ảnh 1
Bình yên Hạ Long.

Mở đầu cho chuyến du lịch đáng nhớ, ông Trần Hữu Tư viết:

“Đến Hòn-gay 6 giờ sáng, chúng tôi thuê được chiếc thuyền khả-dung lối vài chục người. ông Cả đã sai dự bị các thức tửu-hào. Thuyền tách bến nhằm lúc trời êm bể lặng, lại được gió nước đều thuận, nên đi không bao lâu thì tới Cửa Lục (Lục-hải-khẩu). Tại đây có động Ngũ Thể Tường Vân, tên này do đức vua Khải Định đặt ra (tức hang Đầu Gỗ). Từ chân núi phải leo lên gần 100 bậc thang đá mới vào cửa động. Động rộng, có từng ngăn, đá mọc như cột trụ. Trên trần có vô số nhũ đá lòng thòng như kết tủa. Chúng tôi cầm đèn pin đi vào tới ba ngăn mà vẫn thấy còn rộng còn sâu, không dám vào nữa; đành phải lui ra ngồi xem phong cảnh một hồi lâu, rời xuống thuyền. Hồi sớm ở xa chưa có mặt trời, nhìn thấy màu động trắng xanh; bây giờ lại gần, có mặt trời rọi vào, màu động lại đổi ra vàng dợt: Cửa Lục có động Tường Vân/ Sánh cùng các động có phần khác xa/ Giữa trời hả quát miệng ra/ Nuốt ngay tám gió lại hà năm mây/ Đổi màu theo bóng trời xây/ Bồng lai tiên cảnh thế này phải chăng?

Chèo lại núi Cập-gà, leo lên xem thấy có bãi hà rất đẹp, chúng tôi bèn dọn đồ lên đó đánh chén. Gần núi Cập-gà cũng có núi có động, nhưng chẳng có chi đáng kể, chúng tôi bèn bảo nhau chèo lại núi Đề-thơ (tức núi Bài Thơ-ĐD). Tại đây có hai bài thơ: Một bài của vua Lê Thánh Tông và một bài của chúa Trịnh (Trịnh Cương-ĐD). Bài của vua Lê Thánh Tông khắc vào năm 1468 tính ra 472 năm, nay chữ đã mờ chỉ đọc được hai câu: Thiên - Nam vạn cổ sơn hà tại. Chính thị tu văn yễn võ niên. Tuy vậy đọc nội một câu Thiên - Nam vạn cổ sơn hà tại nghe cũng khoái lắm rồi. Phía cuối cùng lại có một bài của cụ Nguyễn Cần mới khắc hồi cụ làm quan tại Quảng Yên. Chơi núi mà không đề thơ là một điều khuyết điểm, đã vậy đây lại là hòn núi Đề-thơ, thì lẽ nào mình lại chịu vô tình với trái núi mà mình ưa thích. Bởi vậy, bỉ nhân (một cách nói khiêm tốn của người bấy giờ để nói về mình - ĐD) cũng xin chắp nhặt mấy vần như dưới đây:

Hà Long phong cảnh

Gối đầu Bắc địa giáp ranh Tàu,
Phong cảnh Hạ Long đẹp biết bao.
Một dải trong ngần mây nhận sắc,
Mấy hòn sáng rỡ đá phơi màu.
Chân trời thâm thẫm rồng đi vắng,
Mặt biển mênh mông cá nhảy nhào.
Nam quốc sơn hà ai đại định?
Thi đề vách đá chứng tài cao!

Xem dãy núi Đề-thơ rồi mặt trời đã chinh xế, nhắm không thể nào ghé vào hết các núi được, nên chúng tôi thả ghe đi một vòng, lấy mắt quan sát toàn cảnh tại Vịnh Hải Long vậy thôi; bởi vì tại đây là một cảnh kỳ quan thứ tám của thế giới, cả thảy có hơn hai chục hòn núi và mười một cái động, tuy thấy hòn lớn, hòn nhỏ, hình dáng khác nhau nhưng hầu hết đều trông ra hình cô phong. Có lẽ khi xưa các trái núi cũng liền nhau, nhưng sau bị lụt hồng thuỷ, vạn vật phải biến ra cảnh tang điền, mà các trái núi mới rã ra thành hình độc lập, như hình hiện tại mà chúng ta thấy đó chăng? Đây là lời phỏng đoán của bỉ nhân, phải quấy thế nào để nhờ những ông bác cổ học chỉ giáo mới được. Quan sát xong, thấy bóng ngọc thố (trăng) đã lạc tận chân trời, nên chúng tôi phải quay thuyền về Hòn-gay. Thuyền đi được vài dặm, chú lái đò chỉ cho chúng tôi xem hình ông Lữ Vọng bằng đá ngồi trên một hòn núi dựa mé biển; và luôn miệng chú cất giọng lên hát: Non thiên khéo đúc nên người/ Trông chừng sành sỏi khác người phàm gian/ Trải bao gió núi mưa ngàn/ Đã già, già sóc lại gan, gan lì. Trọn đêm nay vì bị nước và gió đều ngược, nên thuyền đi không được bao xa. Tới 4 giờ sáng bỉ nhân và ông Cả thức dậy, thấy trời lạnh, bèn đem rượu ra nhậu để hưởng cái thú: Cao sơn lưu thuỷ thi thiên trục/Minh nguyệt thanh phong tửu nhứt thuyền.

Nói chuyện “thơ thẩn” được một lát thì trời phát gió, làm cho sóng dậy ba đào thuyền phải trồi lên, hụp xuống rồi trôi lui rất mau. Sợ để lôi thôi thuyền bị sóng gió đẩy tuốt qua bên Tàu nên chú lái thuyền phải ghé vào bờ, đậu chờ hết giông mới dám ra đi. Về đến Hòn-gay đã gần 10 giờ trưa..”.

Tháng 3-1937