Từ cuối năm 2012, Ban Xây dựng NTM tỉnh đã chủ trì phối hợp với Trung tâm Khoa học công nghệ - Trường Đại học GT-VT và Công ty CP Xây dựng và Tư vấn giao thông Quảng Ninh nghiên cứu, lựa chọn ứng dụng thử nghiệm công nghệ sử dụng chất liên kết thuỷ hoá vô cơ HRB và công nghệ sử dụng tro bay nhà máy nhiệt điện để gia cố đất làm móng mặt đường. Dự án thử nghiệm trên địa bàn Đông triều, Quảng Yên và Tiên Yên với tổng chiều dài các tuyến là 7,2km.
Với việc ứng dụng hai công nghệ này, để thi công các tuyến đường thay vì sử dụng cát, đá làm cốt gia cố nền móng như cách thông thường thì sẽ chỉ dùng 8%-10% chất thuỷ hoá vô cơ HRB hoặc tro bay cộng 4% xi măng trộn trực tiếp với lớp đất làm đường đã được phay đều để tạo thành lớp cốt nền móng, sau đó mặt đường được phủ bằng vữa nhựa nhũ tương phân tích chậm. Theo đánh giá của Ban Xây dựng NTM tỉnh, ưu điểm của các công nghệ này là tiết kiệm được chi phí do sử nguyên liệu và dụng cụ tại chỗ nên ứng dụng khá phù hợp và cho hiệu quả tốt trong việc thi công các tuyến đường giao thông nông thôn. Theo tính toán từ chi phí thực tế cho thấy công nghệ HRB có thể tiết kiệm 17,2%; công nghệ tro bay tiết kiệm được 25% giá thành xây dựng so với đường bê tông xi măng truyền thống. Hiệu quả kinh tế sẽ cao hơn nữa đối với các tuyến đường vùng sâu, vùng xa và hải đảo do tiết kiệm được chi phí vận tải. Đặc biệt, vật liệu sử dụng trong công nghệ này không phản ứng quá nhanh và sinh nhiệt cao như xi măng nên giảm thiểu hiện tượng nứt do co ngót và có thể kéo dài thời gian thi công. Sau khi lu lèn xong có thể cho phép thông xe tải trọng nhẹ ngay không phải chờ thời gian dài như mặt đường bê tông xi măng. Hơn nữa, công nghệ thi công sử dụng các loại máy nông nghiệp sẵn có như máy cày, máy phay… kỹ thuật thi công đơn giản nên bà con các vùng nông thôn cũng có thể thi công được nên mục tiêu nhân rộng có tính khả thi cao.
Hiện nay, với sự phát triển của KH&CN nên vật liệu vữa nhựa nhũ tương phân tích chậm còn được thay thế vật liệu Carboncor Asphalt, có khả năng tăng được 25% diện tích phủ mặt đường. Vật liệu này cũng không yêu cầu phải có lớp dính bám hoặc thấm bám mà chỉ cần sử dụng nước tưới thấm ướt bề mặt trước khi thi công. Đặc biệt, Carboncor Asphalt không bị chảy mềm dưới thời tiết nắng nóng như nhựa thông thường nhưng lại có độ dẻo tốt. Thời gian đưa công trình vào sử dụng cũng được rút ngắn vì chỉ cần sau khi lu phẳng là có thể cho xe chạy, ngay cả với cung đường đòi hỏi cường độ mặt đường cao cũng chỉ cần cấm xe 4-8 giờ. Hiệu quả kinh tế còn có được nhờ việc có thể sử dụng lao động địa phương để thi công vì công nghệ đơn giản. Theo tính toán của Ban Xây dựng NTM sau khi triển khai vật liệu Carboncor Asphalt để thi công mặt đường trên một số tuyến đường tại Đông Triều, Quảng Yên và Tiên Yên, đã tiết kiệm từ 10% đến 20% so với vật liệu thông thường.
Theo Quy hoạch phát triển điện lực Quốc gia, giai đoạn 2006-2015 đã được Chính phủ phê duyệt, Quảng Ninh sẽ có 16 nhà máy nhiệt điện với tổng công suất 10,415MW. Như vậy, mỗi năm sẽ có khoảng 4,5 triệu tấn tro thải ra môi trường cần xử lý. Việc áp dụng công nghệ này cũng góp phần tái sử dụng vật liệu phụ từ nhà máy nhiệt điện, giảm diện tích hồ chứa, bãi chứa của tro bay và tro xỉ góp phần bảo vệ môi trường. Có thể thấy, với nhu cầu cứng hoá hàng nghìn km đường giao thông nông thôn trong những năm tới thì việc ứng dụng thành công công nghệ, vật liệu mới, sẽ mở ra hướng đi mới trong việc thi công các tuyến đường giao thông nông thôn. Công nghệ mới được nhân rộng trên địa bàn toàn tỉnh sẽ mang lại hiệu quả cao hơn, từng bước hoàn thiện hệ thống hạ tầng giao thông nông thôn, qua đó góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Nguyễn Thanh