Chúng tôi đến làng Khoai, thị trấn Như Quỳnh (huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên) “mục sở thị” khung cảnh “kinh hoàng” nghề tái chế túi nilon từ rác thải, rồi bán trên thị trường.
Điều đáng nói, các công đoạn tái chế túi nilon được xử lý rất thủ công, tiềm ẩn nhiều nguy cơ hoá chất độc hại, ảnh hưởng tới sức khoẻ người tiêu dùng, tuy nhiên sự việc này chưa có cơ quan chức năng nào kiểm tra, xử lý.
Tái chế nilon, xây nhà lầu
Chúng tôi đến nhà chị Ngà vào một ngày đầu tháng 9, chị có một xưởng sản xuất trung bình làng Khoai đang có 5 công nhân đang miệt mài đứng máy. Người xay nhựa, kẻ đứng tạo hạt, người đứng máy thổi màng... mỗi người một công việc, hăng say sản xuất trong căn xưởng tăm tối và sực mùi nhựa cháy.
Chị Ngà cho chúng tôi biết: “Mỗi ngày đêm gia đình có thể sản xuất được khoảng 3 tạ nilon. Mỗi kg nilon loại túi to dày thì được 300 chiếc, loại nhỏ, mỏng thì được từ 600 – 800 chiếc, tuỳ vào kích cỡ và độ dày của túi”.
Tính đơn giản, một hộ gia đình ở làng Khoai có thể tái chế và cung cấp cho thị trường khoảng 150 nghìn chiếc túi nilon, nếu làm phép tính đơn giản một gia đình sản xuất được gần 60 triệu chiếc túi nilon/năm.
Để có thể đạt được công suất như vậy, chị Ngà đã đầu tư gần 150 triệu đồng mua máy tạo hạt, máy thổi màng, lò nấu... Mỗi ngày gia đình chị phải thuê từ 5 đến 7 công nhân, chia làm 2 ca sản xuất và tiền công mỗi lao động từ 40.000 - 50.000 đồng/người.
Khi chúng tôi tìm đến nhà anh Đinh Văn Hoát, trưởng thôn thì cũng thấy tiếng máy chạy xì xạch. Anh Hoát hồ hởi cho biết: “Gia đình vừa nhập về thêm 5 tấn nilon để tái chế. Cả làng có trên 3.000 dân với trên 700 hộ gia đình, thì gần như cả làng đều làm nghề “đồng nát”.
Sản lượng tái chế rác thải của làng mỗi ngày trên 30 tấn nilon các loại. Với sản lượng lớn như vậy và một thị trường tiêu thụ rộng khắp các tỉnh phía bắc, người dân làng Khoai đang giàu lên nhanh chóng từ nghề tái chế túi nilon. Hàng trăm hộ dân trong làng đã xây dựng nhà cao từ 2 đến 3 tầng.
Người dân làng Khoai bây giờ không phải đi thu gom phế liệu từ các nơi nữa, mà hàng tấn nhựa, nilon phế thải được đổ về qua các “đội quân” hành nghề đồng nát và bới rác ở khắp các tỉnh. Như lời tâm sự của anh Hoát thì các xưởng “con con” của nhà anh, mỗi tháng đem lại thu nhập cho gia đình không dưới 5 triệu đồng. Làng cũng có ruộng, có đất, nhưng dân làng chẳng có thời gian mà cày, cuốc cứ đến ngày mùa là lại thuê dân làng khác đến cấy, cày, gặt”.
Nhiều nguy cơ tiềm ẩn
Những lợi ích về kinh tế đã thấy rõ, nhưng ảnh hưởng môi trường và tác hại đến sức khoẻ từ nghề tái chế nilon ở làng Khoai đang là một bài toán chưa có lời giải của chính quyền địa phương. Bên cạnh việc nghiên cứu tìm ra giải pháp để hạn chế mức độ ô nhiễm ở làng Khoai, đã đến lúc cơ quan quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm địa phương cần có những đợt kiểm tra, xét nghiệm độ an toàn vệ sinh từ sản phẩm túi nilon của làng nghề.
Nilon chờ được tái chế
Qua tìm hiểu của chúng tôi, khâu xử lý nilon thành phẩm ở làng Khoai hầu hết bằng cách thủ công, không qua xử lý hoá học. Sau khi tái chế ra túi nilon thành phẩm, người làm nghề chỉ rửa qua bằng nước vôi trong, rồi sấy khô và bán ra thị trường. Tuy nhiên, đáng tiếc là những công đoạn này chưa có cơ quan chức năng kiểm tra và khuyến cáo khi túi nilon tái chế từ làng Khoai bán trên thị trường có đủ tiêu chuẩn vệ sinh đối với người tiêu dùng không?
Dọc theo thị trấn Như Quỳnh, hàng trăm các bao tải rác nilon, vỏ chai nhựa... được chất thành những đống cao ngập đầu người với mùi ô nhiễm nồng nặc. Trong hiên nhà, bên bờ đê, dọc các con mương... chỗ nào có khoảng trống thì chỗ đó có rác nilon.
Theo số liệu khảo sát của Viện khoa học công nghệ và môi trường (Đại học Bách Khoa Hà Nội) thì tình trạng môi trường ở làng Khoai có các dạng ô nhiễm hữu cơ, ô nhiễm sinh vật và ô nhiễm dầu. Hàm lượng Amoniắc, nitrit... xuất hiện hầu hết tại các giếng khoan của các gia đình làm nghề trong làng. Các yếu tố chỉ mức độ ô nhiễm hữu cơ gồm BOD và COD đều vượt tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) cho phép.
Mật độ vi khuẩn coliform ở các ao hồ, kênh mương trong làng gấp hàng chục lần TCVN. Lượng bụi ô nhiễm trong không khí vượt gấp 6 lần so với TCVN. Tại các cơ sở sản xuất, nhiệt độ luôn cao hơn bên ngoài từ 4 – 6 lần, nồng độ khí CO cao gấp 6 lần.
Theo thống kê của Trạm Y tế thị trấn Như Quỳnh các bệnh liên quan đến nghề tai chế túi nilong như hô hấp, tai mũi họng, mắt, da, thần kinh ngày càng gia tăng. Trong đó, có tới 40% dân làm nghề thường xuyên bị các bệnh nghẹt mũi, khó thở, 35% số người thường bị ho, 32% số người đau vòm họm, 30% số người giảm thính lực, 48% số người làm nghề bị mắc bệnh về đường hô hấp...
Cũng theo lời cảnh báo của ngành y tế địa phương, túi nilon đựng thực phẩm được tái chế từ làng Khoai có nguy cơ ngộ độc cao do chứa các kim loại như cađini, chì... gây hại cho sức khoẻ. Khi túi nolon bị đốt, các khí độc thải ra có thành phần cacbon có thể gây ngộ độc, ảnh hưởng đến tuyến nội tiết, phá vỡ hocmon, gây rối loạn các chức năng tiêu hoá và gây ung thư...