Buôn bán phụ nữ, trẻ em là hành vi coi người phụ nữ và trẻ em như một món hàng để trao đổi lấy tiền hoặc lợi ích vật chất khác. Đây là tội phạm hình sự đã được quy định tại điều 119 và 120 Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Hiện nay tệ nạn buôn bán phụ nữ, trẻ em đã trở thành vấn đề nóng bỏng, nhức nhối, ảnh hưởng xấu đến đời sống sinh hoạt của xã hội, phong tục, tập quán, đạo đức xã hội, pháp luật của Nhà nước, cướp đi hạnh phúc của nhiều gia đình, làm mất trật tự an toàn xã hội. Các phần tử xấu lợi dụng vấn đề này để nói xấu, tuyên truyền sai sự thật, ảnh hưởng đến uy tín của Đảng và Nhà nước. Một bộ phận phụ nữ, trẻ em (PNTE) bị buôn bán ở trong nước, chủ yếu từ các vùng nông thôn, miền núi ra thành phố, thị xã để làm gái mại dâm. Còn lại phần lớn PNTE bị buôn bán ra nước ngoài, đến nhiều nước khác nhau với nhiều hình thức và mục đích khác nhau. Ngoài ra, tình hình phụ nữ Việt Nam bị dụ dỗ, lừa gạt, buôn bán sang Đài Loan qua hình thức môi giới hôn nhân, trẻ em Việt Nam bị bán ra nước ngoài qua hình thức cho nhận con nuôi người nước ngoài trong những năm vừa qua cũng là vấn đề rất phức tạp và rất khó kiểm soát. Nguyên nhân của tình trạng trên có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. Một mặt trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, nhiều mâu thuẫn trong đời sống kinh tế - xã hội nảy sinh, nhất là vấn đề phân hoá giàu nghèo, tình trạng thất nghiệp; một số khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, đời sống nhân dân còn rất khó khăn, dân trí thấp, nhiều phụ nữ, trẻ em và gia đình họ ở trong hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, bị lôi cuốn vào quá trình tìm kiếm công việc làm ở đô thị hay ở nước ngoài có điều kiện kinh tế khá hơn. Mặt khác, do tác động ảnh hưởng của nhiều yếu tố xấu như các luồng văn hoá độc hại, các tệ nạn xã hội như mại dâm, ma tuý trong nước và khu vực; bọn tội phạm trong nước móc nối với tội phạm người nước ngoài đẩy mạnh các hoạt động tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em ở Việt Nam với nhiều hình thức, thủ đoạn tinh vi, phức tạp. Bên cạnh đó còn do công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm buôn bán, phụ nữ, trẻ em chưa được triển khai một cách toàn diện, đồng bộ... Với đặc điểm là tỉnh biên giới có 132,8 km đường biên giới trên đất liền và trên 250 km đường biên giới biển tiếp giáp với Trung Quốc, Quảng Ninh là một trong 4 tỉnh trọng điểm liên quan đến tội phạm buôn bán phụ nữ trẻ em. Các đối tượng thường đưa phụ nữ, trẻ em từ các địa phương tuyến trong qua Quảng Ninh bán sang Trung Quốc với nhiều mục đích khác nhau. Nhận thức được tính chất nghiêm trọng, sự cần thiết và trách nhiệm phải tăng cường phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em. Thực hiện Quyết định số 130/QĐ-TTg ngày 14/7/2004 của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình hành động phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ trẻ em, Tỉnh đã thành lập Ban Chỉ đạo Chương trình phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ trẻ em tỉnh (gọi tắt là BCĐ 130) do đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh làm Trưởng ban, đồng chí Phó Giám đốc Công an tỉnh là Phó trưởng ban thường trực và một số thành viên là lãnh đạo các ban, ngành, đoàn thể tỉnh. Ban Chỉ đạo của tỉnh và các địa phương, đơn vị đã căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ và tình hình thực tế của mình xây dựng kế hoạch và tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc các nội dung của Chương trình đã đề ra, trong đó đặc biệt nhấn mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục phòng ngừa và tăng cường đấu tranh ngăn chặn. Có thể khẳng định, công tác phòng ngừa và đấu tranh trấn áp tội phạm buôn bán phụ nữ trẻ em của Quảng Ninh những năm qua có nhiều tiến bộ. Tính từ năm 2004 đến nay, các lực lượng chức năng của tỉnh đã phát hiện, bắt giữ, xử lý 73 vụ, 119 đối tượng phạm tội buôn bán PNTE, kịp thời giải thoát cho 109 PNTE là nạn nhân trong các vụ án. Đặc biệt gần đây, tình trạng đưa trẻ sơ sinh từ các tỉnh phía trong sang Trung Quốc bán lại có chiều hướng gia tăng và tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp (chỉ tính từ tháng 11/2007 đến tháng 6/2009 các lực lượng chức năng Quảng Ninh đã phát hiện, bắt giữ 7 vụ 13 đối tượng phạm tội đưa 8 trẻ em sơ sinh sang Trung Quốc bán). Bên cạnh công tác phòng ngừa và đấu tranh trấn áp tội phạm, Ban Chỉ đạo của tỉnh đã ban hành quy chế tạm thời về việc tiếp nhận và có chính sách phù hợp hỗ trợ cho các nạn nhân bị buôn bán từ nước ngoài trở về. Tính từ năm 2005 đến nay, các ngành chức năng của tỉnh đã phối hợp với Công an Trung Quốc giải cứu 52 nạn nhân là PNTE bị buôn bán sang Trung Quốc để đưa họ về với gia đình; tổ chức tiếp nhận 72 đợt người Việt Nam xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc do Công an Trung Quốc trao trả (đã có 481 PNTE trong số người được trao trả khai nhận bị lừa bán sang Trung Quốc). Nhìn chung, công tác tiếp nhận được thực hiện đúng theo quy định, các nạn nhân khi được tiếp nhận trở về đều được các ngành chức năng và các đoàn thể, tổ chức xã hội tư vấn, giúp đỡ, tạo điều kiện về vật chất để họ trở về địa phương; đối với số nạn nhân là trẻ sơ sinh được đưa vào chăm sóc, nuôi dưỡng đầy đủ tại Trung tâm bảo trợ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt thuộc Sở lao động thương binh xã hội của tỉnh; đối với số nạn nhân là người Quảng Ninh sau khi về địa phương được Sở lao động thương binh xã hội và Hội phụ nữ đến tư vấn giúp đỡ, hỗ trợ 150 ngàn đồng/tháng trong 3 tháng đầu, một số trường hợp được dạy nghề (trong 3 năm qua, có 23 phụ nữ là nạn nhân bị buôn bán trở về đã được đào tạo nghề may, nấu ăn, phục vụ nhà hàng...).
Tuy đã đạt được một số kết quả như trên, nhưng nhìn chung công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em của tỉnh còn hạn chế. Công tác điều tra cơ bản nắm tình hình chưa thường xuyên, chưa kịp thời. Công tác phát hiện các vụ việc có liên quan còn mang tính thụ động, hầu như dựa vào đơn thư tố giác của người bị hại hoặc gia đình. Công tác quản lý nhân khẩu, hộ khẩu tạm trú, tạm vắng chưa tốt, nhất là vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Tổ chức lực lượng và các trang thiết bị phục vụ công tác đấu tranh chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế hiện nay.