Hội Văn học Nghệ thuật TX Cẩm Phả vừa cho ra mắt tập thơ ''Tình thơ trong lửa than". Tập thơ được Nhà xuất bản Hội Nhà văn phát hành trong dịp chào mừng Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc.
Đây là tập thơ chọn lọc của các tác giả quen biết đã từng trực tiếp sống, lao động và công tác trên địa bàn thị xã nhiều năm. Nói đến Cẩm Phả là nói đến than, một ngành cung cấp nguồn năng lượng vào loại lớn nhất cả nước. Tập thơ đề cập nhiều vấn đề, nhiều ngành nghề, nhiều trạng thái tâm trạng trong cuộc sống muôn màu, muôn vẻ không dễ gì phân tích, tóm tắt, diễn giải trong một sớm một chiều. ở đây, tôi chỉ nói riêng một vài ý nghĩ nông gần của mình qua những trang thơ viết về người công nhân mỏ, đã từng tăm tối, khổ nhục, đói rét đứng lên làm chủ cuộc đời mình, xây dựng một xã hội tốt đẹp, ấm no, văn minh trong bộn bề khó khăn gian lao chồng chất. Những vần thơ của nhiều thế hệ tác giả đã góp phần làm nên diện mạo văn hoá một vùng đất đẹp giàu với những cung bậc tình cảm khác nhau. Có những tác giả đã từng lăn lộn với tầng bãi, chịu đựng thời tiết khắc nghiệt, có tác giả trực tiếp dưới hầm lò, thiếu từng ngọn gió tươi, có tác giả đưa chiếc xe của mình quần quật chở đất chở than trong mù mịt sương dày, có người thợ ngày đêm bám máy bám tầng, chăm sóc cho từng thiết bị được hoàn chỉnh. Trong bộn bề lo toan vừa sản xuất, họ vừa làm thơ. Hơn nữa có nhiều bài thơ hay, đầy sự sáng tạo và sức lôi cuốn, đóng góp vào kho tàng thơ của địa phương và cả nước. Giờ họ đã nghỉ hưu vẫn say sưa sáng tác. Có những tác giả còn sung sức, đang lao động miệt mài cho dòng than ra. Họ là những nhà thơ bán chuyên nghiệp, hăng say học tập, tu dưỡng, mong sáng tạo được những bài thơ, câu thơ đi vào lòng người, khắc hoạ thật đậm vai trò, vị trí người công nhân dưới chế độ xã hội mới, dám nghĩ, dám làm, xốc tới đương đầu cùng khó khăn. Bên cạnh đó, những cây bút trẻ còn đang ngồi ghế nhà trường hứa hẹn với chúng ta những sáng tác mới, tươi sáng hơn và cao đẹp hơn.
Chúng ta gặp lại đây những người đồng đội cùng trên chiến hào sản xuất than những năm đánh Mỹ, giờ đã mãi mãi đi xa. Đó là nhà thơ Trần Ngọc Tảo, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Anh đã có nhiều đóng góp lớn cho phong trào thơ của thị xã. Những bài thơ viết từ những ngày còn làm trên mỏ Đèo Nai in trong tập thơ đã dựng lên một khung cảnh mà ngày nay do thiết bị công nghệ khai thác khác đi, chúng ta đã bắt đầu thấy xa lạ. Đó là những cô gái mỏ đổ dầu cặn, dầu thải vào những ống thép đặt trên trục đường cho xe đi những đêm tối sương mù như bưng lấy mắt, người đi bộ trong đêm, dưới ánh điện mà còn không nhìn rõ chân mình. Những đuốc lửa ấy như những cọc tiêu lửa chỉ đường cho xe qua: Nhìn loang loáng nước bùn trơn/ tay em vẽ một cung đường xe quay/ dưới kia mù mịt suơng dày/ xe tôi vào số theo tay em lùi/ nâng ben trút đá xuống rồi/ xe đi vẫn vẳng tiếng cười em vang. Những ngày nắng, áo vắt ra nước. Những hôm mưa ủng thụt trong bùn, lôi mãi không ra được. Những tảng đá trở nên bạc trắng/ nắng chang chang như đổ lửa xuống đầu. Rồi ở trong lò, lò than mỏ Thống Nhất, mỗi người thợ vào lò thắp sáng trên mỏ một ngọn đèn: Lò chợ vắt ngang vỉa than dày/ than qua máng cuộn như nước xối/ ngọn đèn đẩy lùi xa bóng tối/ người thợ nhận nhau qua vầng sáng trên đầu/ bởi mỗi người là một vì sao hoặc trong lò giếng Mông Dương: Chúng tôi đi ngang tầm đáy biển/ ngọn gió mát vào đây tan biến/ bởi trong lò khô khốc bụi than. Những gian khổ ấy càng tôi luyện người thợ, gắn kết họ lại thành một khối đồng tâm, vượt mọi gian nan khó khăn: Ít ngọt ngào lời nói em anh/ nhưng công việc kéo lòng nhau gần gũi/ xe chạy đêm ngày như mắc cửi/ máy nổ rền tiếng sấm quanh năm.
Khai thác theo một hướng khác, nhà thơ Lương Vĩnh Phúc nói về những sinh hoạt đời thường của người thợ. Hạnh phúc thật đơn sơ nhưng đầm ấm trong sáng được tác giả mô tả: Đêm trong mỗi ngôi nhà/ có ngọn lửa hồng bập bùng tỏa sáng/ có những ai ngồi hơ tay lạnh cóng/ để nghĩ về nhau, để nghĩ về đời.
Một số tác giả khác đã chuyển đổi công tác, đã xa địa bàn thị xã như Ngô Xuân Hội, Trần Thị Lợi, Văn Chư, Nguyễn Xuân Trãi. Mỗi người đều có những mảng sáng tác về đề tài công nghiệp, công nhân mỏ khác nhau. Nhà thơ Ngô Xuân Hội, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, nguyên là công nhân mỏ than Thống Nhất đã viết về công việc trực tiếp của anh: Những phá những phay những mạch nước ngầm/ mùa mưa về trở mình thức dậy/ mở lò than qua nhiều nơi đứt gẫy/ quần áo anh ngậm nước ướt ròng/ Tây Khe Sim mùa mưa mùa mưa/ một khối than chìm trong ba khối nước/ nắng theo thợ lò đi vào lòng đất. Và từ trong gian khổ ngột ngạt hầm lò, nắng bụi tầng than ấy, người thợ chịu đựng, vượt qua cho dòng than óng ánh sắc màu tuôn chảy không ngừng nghỉ: Suốt ngày cát bụi bay/ những đám bụi màu mây/ vẫn thấy trước cơn giông trong đám cháy/ xuyên qua những đám bụi ấy/ xe nhuộm màu than người nhuộm màu than/ chúng tôi như từ đất lên/ gió và gió/ thổi trên tầng 380/ nơi rộng rãi tầm trời/ nơi ngổn ngang tầng đất/ từ đây những Iỗ khoan sâu hút/ đất lật lên óng ánh màu đen/ Không thể nào con tim không hát lên/ trước sắc than tầm trời vùng mỏ.
Làm mỏ, dù đã cố gắng hết sức, những tai nạn đổ xe, cháy máy, sập tầng rất khó tránh khỏi. Có những vụ nghiêm trọng, mấy người thợ ra đi mãi mãi không về. San sẻ lo lắng với chúng ta trước những vụ sập lò, nhà thơ Nguyễn Xuân Trãi viết nghe đài báo cả non sông thao thức. Công việc cấp cứu, giải quyết sự cố rất khẩn trương đã được nhà thơ Văn Chư mô tả bằng những vần thơ trần trụi, nhịp điệu nhanh mạnh, gâp gáp: Anh nằm trong than/ nằm giữa ruột núi/ chân duỗi chân co/ Cứu lò! Cứu lò!/ huy động khẩn cấp/ một mét, hai mét, một tấc, hai tấc/ cuộc chiến giành giật sự sống trong tay thần chết. Khó khăn, vất vả là thế nhưng người thợ mỏ vẫn gồng mình lên, xốc tới, đương đầu với bao hiểm nguy vững bước đi lên.
Họ là những người ta vẫn gặp ngày ngày, chất phác thô mộc "Những khuôn mặt nhuốm than nhem nhuốc/ những bộ áo quần ướt đẫm mồ hôi" trong thơ Trần Hải - người bác sĩ đã mấy chục năm trời cứu chữa bệnh tật cho công nhân than. Với nhiệm vụ vinh quang và nặng nề ấy, nhà thơ khẳng định: Có cả phần tôi/ yêu mỏ gắn cuộc đời với mỏ/ hạnh phúc vui buồn sống chết cùng than. Nhà thơ Nguyễn Trung Năm cùng người thợ bề bộn niềm vui vào ca đêm với hình ảnh thơ mộng: Lái máy ca đêm nhịp gầu như múa hát/ khoảng sáng vòng quay chuyển động đất trời. Có niềm vui ấy để có ngàn vạn tấn than đồng đội chuyển dời. Nhà thơ Trần Đình Nhân đã nhiều năm lăn lộn cùng tầng mỏ, thực tế hơn, đã có những câu viết về cái nắng thật dữ dằn, khốc liệt chỉ thấy ở trên than: Nắng xói gương tầng nắng lận đáy moong/ nắng như thể chưa bao giờ được nắng/ nắng như khát cồn cào như lửa bỏng, rồi anh khảng khái tuyên bố: Ai đã qua mùa nắng ở đây/ mới thấy hết tình yêu khắc nghiệt/ mới thấy hết dòng than thao thiết/ Bàn tay người trong nắng xối chang chang. Cùng nói nỗi vất vả của người thợ, nhà thơ Nguyễn Thị Hồng Chiêm sẻ chia với những người thợ: tan tầm người từ mỏ về/ chỗ nào cũng bụi/ cũng nhọ nhem, đen nhẻm màu than. Vượt qua thời tiết khắc nghiệt ấy, nhà thơ Trần Thị Thuý Giang lại viết về những cô gái trẻ: “Hát tình ca cũng có tiếng than rơi/ quen nỗi buồn quen những niềm vui/ gắn hòn than với nhà máy mới/ quen tiếng cười cứ bay lên phơi phới'' Nhà thơ Bùi Duy Điền cũng rất hồn nhiên khi viết: Cô gái trẻ giữa vùng than gió bụi/ đợi xuân về với nắng ấm mưa bay/ trong lao động vẫn yêu thầm nhớ vụng/ Nét dịu dàng và hơi ấm bàn tay. Những cảnh đêm vùng than huyền ảo đắm say: Phố mỏ vào đêm/ tầng cao dát bạc/ những con đường rực ánh đèn cao áp. Nhà thơ, tiến sĩ, phó giáo sư Phạm Huy Văn cũng viết về mỏ với hình ảnh chân thực ''Máy khoan xoáy vào ruột đất/ như con ong hút nhụy đêm ngày” bên những câu thơ đầy chất lãng mạn bàn tay chai sần vôi vữa nhìn chân tường bắt gặp chân mây. Những khoảng khắc tâm tư của người thợ, những buồn lo xa xót trước những điều chưa hợp lý, chưa vừa lòng đều được nhiều tác giả phát hiện, phát triển và đề cập trong đời sống nhằm tăng giá trị tinh thần, ước mong làm cao đẹp tâm hồn người thợ mỏ. Tất cả những gian nan khó khăn đã làm nên phẩm chất, phẩm giá người thợ mỏ, người vùng than. Người thợ tự rèn rũa mình qua công việc để tồn tại, để lớn lên, để phát triển bằng chính nội lực của mình như nhà thơ Lê Xuân Nguyện viết một cách dung dị dưới chân tượng đài thợ mỏ: Sàng lọc hòn than như sàng lọc điều xấu lấy điều tốt/ như sàng lọc dối trá để tìm điều thật thà/ như người thợ mỏ rành rọt hôm nay hôm qua/ các anh sống như hòn than nguyên chất. Và tượng đài thợ lò chính là nơi cuộc đời đã vinh danh cho những người thợ mỏ, những công nhân ưu tú của ngành than, của giai cấp công nhân Việt Nam.
Qua “Tình thơ trong lửa than”, hình ảnh và vị trí người thợ mỏ được thêm một lần khẳng định bằng những bài thơ, vần thơ, câu thơ mộc mạc chân thành và khoẻ khoắn, làm đẹp thêm tâm hồn con người trong công cuộc xây dựng đời sống mới hiện nay. Lòng tin vào những điều tốt đẹp đang hiện hữu, sinh sôi, nảy nở bất chấp những khó khăn tồn tại ngày ngày...