Hoa đời thường

Dù mỗi người một hoàn cảnh khác nhau, nhưng cả 60 người trong số họ cùng quyết tâm vượt qua nỗi đau, mất mát để làm việc và cống hiến. Chúng tôi xin giới thiệu một số gương mặt tiêu biểu.

Thuận vợ thuận chồng tát biển đông cũng cạn”

Câu tục ngữ này thật đúng với hoàn cảnh gia đình anh Nguyễn Văn Tung, chị Bùi Thị Tư (phường Thanh Sơn, Uông Bí). Cả hai anh chị đều là thương binh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, nhưng trong cuộc sống hôm nay, họ là những tấm gương lao động, sản xuất khiến nhiều gia đình bình thường phải thán phục.

1

Chị Bùi Thị Tư

2

Chị Bùi Thị Tư

Vào những ngày ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ, người con gái 18 tuổi Bùi Thị Tư quê Thái Bình đã tình nguyện đi thanh niên xung phong tại chiến trường Quảng Trị. Nơi chiến trường ác liệt càng rèn thêm cho chị ý chí kiên cường. Chị đã không quản hiểm nguy, cùng các nữ thanh niên xung phong phá đá, mở đường... Trong một lần đi trinh sát, giặc ném bom ác liệt, chị bị thương nặng và được đưa về điều dưỡng tại TX Uông Bí năm 1969. Tại đây chị đã gặp và nên vợ nên chồng với người lính Nguyễn Văn Tung quê ở Hà Tây, bị thương tại chiến trường Tây Ninh. Hai trái tim đồng cảnh đã đến với nhau để chia sẻ những đau thương mất mát. Anh chị đã xin ở lại TX Uông Bí để lập nghiệp. Chị Tư vào làm tại Trường Trung cấp Sư phạm Quảng Ninh (nay là Trường Cao đẳng Sư phạm Uông Bí), anh Tung làm công tác quản lý hồ sơ lưu trữ tại Công ty Than Uông Bí. Một gia đình cả hai vợ chồng đều là thương binh, nên cuộc sống hết sức khó khăn. Những tháng năm đầu cuộc sống vợ chồng là cả một chặng đường đầy gian nan và thử thách với anh chị. Ngày ngày anh chị tất bật với công việc cơ quan, hết giờ làm việc lại bươn bả lao động trên vỉa hè để cắt tóc, sửa xe.... Chị Tư kể về những tháng năm khó khăn nhất của hai vợ chồng: Ngày đó cả gia đình ở trong một ngôi nhà tranh tre dột nát. Các con nhỏ dại, nhiều lúc vết thương tái phát khiến anh chị như gục ngã, lúc đó chỉ biết chờ đợi qua cơn nguy kịch rồi tự chăm sóc nhau. Mặc dù vậy anh chị vẫn quyết tâm chăm lo các con mình học hành đầy đủ. Sau những ngày lao động mệt mỏi, anh chị dành nhiều thời gian để dạy các con học, tâm tình và động viên các con phấn đấu “tài sản của bố mẹ là các con và tài sản của các con sau này chính là tri thức, các con hãy phấn đấu học tập...”. Hiểu được công lao của bố mẹ, nên các con của anh chị đều cố gắng học tập và ngày càng trưởng thành. Hai người con đầu của anh chị đã tốt nghiệp đại học, cao đẳng và có công ăn việc làm ổn định; cậu con út hiện là sinh viên năm thứ tư Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, 12 năm học phổ thông đều đạt danh hiệu học sinh khá và giỏi, đạt giải nhất cuộc thi toán cấp tỉnh năm 2003-2004, là sinh viên xuất sắc được nhận học bổng của Trường Đại học xây dựng Hà Nội.

Đến nay bằng sức lao động bền bỉ, anh chị đã gây dựng một cơ ngơi đầy đủ, cuộc sống sung túc. Nhưng hạnh phúc lớn nhất với anh chị là đã chăm lo cho các con học hành đầy đủ, nên người. Mặc dù giờ đây anh Tung không còn nữa nhưng hình ảnh về đôi vợ chồng thương binh, một gia đình cách mạng gương mẫu vẫn còn in đậm trong tâm trí nhiều người.

Đi lên từ hai bàn tay trắng

Dáng người đậm đà, bước đi nhanh nhẹn, đôi tay không ngớt làm việc, đó là ấn tượng đầu tiên khi tôi gặp chị Đào Thị Huệ ở thôn An Biên, xã Thuỷ An, huyện Đông Triều. Là vợ của thương binh 1/4 , chị trở thành lao động chính trong gia đình. Cuộc sống của gia đình với 6 nhân khẩu chỉ trông vào mấy sào ruộng nên rất khó khăn. Tài sản của gia đình chị duy nhất là con trâu, chị mang trâu đi cày thuê cho người dân trong xã. Chị tằn tiện chi tiêu lo cho các con ăn học và thuốc men cho chồng những lúc ốm đau. Thấy bà con trong xã nuôi ngan, chị đến học hỏi kinh nghiệm, tham khảo qua sách vở, đài, báo rồi quyết tâm dành dụm tiền để mua ngan giống về nuôi. Ban đầu chị chỉ nuôi chục con ngan, đến nay đàn ngan đã tăng lên hàng trăm con. Gia đình chị hiện đã trở thành một địa chỉ quen thuộc bán ngan giống và ngan thịt không chỉ ở thôn An Biên mà người dân ở các xã lân cận cũng tìm đến mua. Bà con trong xã thường xuyên đến học hỏi cách làm của chị. Chăn nuôi có lãi chị đầu tư mua máy cày, tuốt lúa, xay xát để làm dịch vụ. Mỗi năm gia đình chị thu nhập từ 40 đến 50 triệu đồng.

Bà con trong xã ai cũng cảm phục và coi chị như một tấm gương để học hỏi. Gia đình chị nhiều năm liền được công nhận là hộ gia đình sản xuất kinh doanh giỏi, gia đình văn hoá, gia đình cách mạng gương mẫu.

Nữ thương binh năng động

Chị Trần Thị Nga ở khu 5 phường Quang Hanh, TX Cẩm Phả là một trong hàng trăm người con của quê hương Thái Bình đã tạm biệt gia đình, quê hương đi thanh niên xung phong năm 1965. Chị kể: “Thời kỳ đó, Mỹ bắn phá ác liệt. Thanh niên xung phong chúng tôi làm nhiệm vụ lấp đất mở đường để xe vận chuyển lương thực và súng đạn tiền tuyến. Nhiều đồng đội của tôi đã ngã xuống. Người trở về thì ngày đêm phải vật lộn với những vết thương do chiến tranh gây ra...”. Trong cuộc chiến đấu ác liệt đó, chị bị thương và được đưa về điều trị. Năm 1969, chị được phân công ra Bắc học Trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Ninh; tốt nghiệp được nhận vào làm giáo viên giảng dạy tại Trường THCS Quang Hanh.

3

Chị Trần Thị Nga và cửa hàng của gia đình

4

Chị Trần Thị Nga và cửa hàng của gia đình

Với lòng yêu nghề và nhiệt tình với công việc, chỉ sau một năm công tác chị được tín nhiệm giao chức vụ Phó hiệu Trưởng Trường THCS Quang Hanh. Trong vai trò của lãnh đạo, chị cùng đồng nghiệp đoàn kết đưa công tác dạy và học của nhà trường đạt kết quả tốt, tỉ lệ tốt nghiệp nhiều năm liền của trường đều đạt 100%. Năm 1988 sức khoẻ giảm sút, chị nghỉ hưu. Để kiếm thêm thu nhập cho gia đình, chị mua bông về bện chổi bán cho người dân quanh khu. Số tiền dành dụm được, ngoài việc trang trải cho cuộc sống gia đình chị mở cửa hàng tạp hoá... Chị ước muốn có ngày trở lại chiến trường xưa, thăm lại nơi những đồng đội đã ngã xuống, được chứng kiến những đổi thay của mảnh đất một thời lửa đạn. Nhớ về mái trường yêu dấu xưa, chị chúc cho trường đạt được nhiều thành tích hơn nữa....

Điểm tựa từ quá khứ

Năm 1979, 20 tuổi, chị Dương Thị Mai (xã Phong Hải, Yên Hưng) xây dựng gia đình với anh Vũ Văn Cống, bộ đội đóng quân ở Tiên Yên. Sau lễ cưới, anh ở với chị được một tuần rồi trở về đơnvị. Một năm anh về nhà được 2 lần, việc liên lạc giữa hai vợ chồng chỉ qua những cánh thư. Thư nào gửi về anh cũng bày tỏ sự thông cảm, biết ơn của anh đối với chị, an ủi, động viên chị cố gắng vượt lên những khó khăn. Khi cô con gái thứ hai của anh chị được hơn 1 tuổi anh hy sinh trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới của Tổ quốc. Nỗi đau này chị tưởng chừng không chịu nổi. Nhưng rồi thương bố mẹ chồng già yếu, thương những đứa con nhỏ dại, chị tự nhủ phải mạnh mẽ để nuôi các con nên người. Chị kể: “Anh ấy lúc nào cũng mong các con được vui vẻ, hạnh phúc. Khi ra đi, anh không kịp dặn dò gì, nhưng tôi hiểu tâm nguyện của anh ấy là mong các con khôn lớn thành người. Giờ anh mất rồi, tôi phải thay anh thực hiện tâm nguyện đó...”.

21 năm chị vẫn một lòng thờ chồng, tần tảo nuôi con. Hạnh phúc của chị là những đứa con khôn lớn từng ngày. Các con chị thương mẹ nên chăm ngoan, chịu khó học hành. Ngoài việc gia đình, chị Mai còn là một cán bộ phụ nữ xã năng nổ, nhiệt tình. Tham gia công tác xã hội từ khi còn là thanh niên, chị đã đảm nhận nhiều vị trí công tác của Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ xã và HTX. Từ năm 2001, chị được bầu là Chủ tịch Hội phụ nữ xã. Dù ở cương vị nào chị cũng hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, được bà con, hội viên tín nhiệm. T.Ư Hội LHPN Việt Nam, Hội LHPN tỉnh, Hội LHPN huyện Yên Hưng tặng nhiều bằng khen, giấy khen... Hiện hai con của chị đã trưởng thành và có công việc làm ổn định. Người thân giục chị đi bước nữa, nhưng chị đều lắc đầu. Chị bảo: “Ngày xưa trẻ còn chẳng nghĩ đến, bây giờ lại càng không. Cuộc sống của tôi đâu có cô đơn, tôi luôn có các con, và hình ảnh anh ấy ở bên...”.

Cùng chuyên mục