Kết thúc năm 2007, toàn tỉnh có 1049 người đi xuất khẩu lao động (XKLĐ), trong khi đó mục tiêu của năm 2007 là phải đạt từ 1.500-2.000 người và giai đoạn 2006 đến 2010 đạt 10.000 lao động đi làm việc ở nước ngoài. Đây thực sự là một con số ''khiêm tốn'' cho thấy thực trạng vấn đề XKLĐ ở Quảng Ninh đang gặp nhiều khó khăn. Vậy, đâu là nguyên nhân và giải pháp nào để tháo gỡ khó khăn trong công tác XKLĐ, tiến tới mục tiêu xóa đói giảm nghèo một cách bền vững.
Đâu là nguyên nhân?
So với những năm trước, năm 2007 có nhiều lợi thế về XKLĐ. Thứ nhất, Luật đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đã có hiệu lực, Chính phủ cũng đã ban hành các nghị định hướng dẫn thực hiện. Có thể nói, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động XKLĐ đã khá đầy đủ. Thứ hai, xác định tầm quan trọng của XKLĐ đối với vấn đề giải quyết việc làm, tỉnh đã quan tâm chỉ đạo từ việc chấn chỉnh hoạt động XKLĐ dần đi vào nề nếp, đến tạo điều kiện về nguồn vốn cho mọi đối tượng có nhu cầu đi lao động có thời hạn ở nước ngoài. Thứ ba, những người đi XKLĐ ngày càng được đào tạo nghề, ngoại ngữ một cách bài bản, có ý thức chấp hành tốt hơn các quy định trong hợp đồng lao động, cũng như pháp luật của nước sở tại. Thứ tư, bên cạnh khai thác thị trường sẵn có, các thị trường mới cũng đã rộng cửa đón nhận lao động Việt Nam, trong đó có những thị trường khó tính như Mỹ, Canada, Trung Đông, các nước thuộc khối Ả Rập...Thế nhưng, năm 2007 đã khép lại với bức tranh ảm đạm về hoạt động XKLĐ tại Quảng Ninh. Vậy, đâu là nguyên nhân?
Một lớp học tiếng Hàn của Trung tâm đào tạo và XKLĐ Quảng Ninh
Theo ông Nguyễn Đình Tuấn, Giám đốc Sở Lao động, Thương binh và Xã hội, những năm qua, tỉnh đã triển khai rất nhiều giải pháp nhằm thúc đẩy công tác XKLĐ, nhưng số người đi chưa nhiều. Nguyên nhân chính, theo ông Tuấn là công tác thông tin, tuyên truyền ở một số nơi còn yếu, thậm chí nhiều địa phương còn xem nhẹ sự quan trọng của hoạt động này, dẫn đến lao động thiếu niềm tin.
Có thể nói, hiện nay, công tác XKLĐ vẫn chưa có một chương trình mang tính dài hạn với mục tiêu, giải pháp cụ thể. Từ đó, dẫn đến sự lúng túng trong quá trình tổ chức thực hiện. Biểu hiện của việc này là sự thiếu gắn kết giữa các ngành, địa phương, cơ sở với các đơn vị có chức năng XKLĐ. Công tác này chỉ mới dừng lại ở chỗ “phần ai nấy làm”, một số địa phương còn phó mặc cho doanh nghiệp. Ông Nguyễn Đình Tuấn thẳng thắn: “Giữa các ngành, cơ sở và địa phương chưa có sự phối hợp nhằm trao đổi thông tin với người lao động. Chưa kết hợp trong việc tiếp xúc, tìm hiểu tâm tư người lao động để định hướng cho họ”.
Trong khi đó, thời gian qua, một số doanh nghiệp hoạt động XKLĐ ở Quảng Ninh đã gặp phải những vấn đề trong quá trình thực hiện hợp đồng, làm ảnh hưởng tới lòng tin của nhân dân. Đơn cử như trường hợp của Công ty XKLĐ, Thương mại và Du lịch (thuộc Trung ương Hội Nông dân); Công ty Cung ứng nhân lực Quốc tế (thuộc Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội). 2 doanh nghiệp này gần như đã mất thị phần tại 2 huyện Đầm Hà và Tiên Yên, chỉ vì để xảy ra sự cố người LĐ sau khi đi làm việc ở nước ngoài không được làm công việc như hợp đồng, tiền lương thấp hơn, áp lực công việc cao hơn...Có doanh nghiệp trong thông báo tuyển lao động chưa thể hiện rõ mức tiền lương cơ bản, những khoản phải đóng góp, phải khấu trừ, chỉ thông báo tổng thu nhập kể cả thêm giờ nhưng không nói rõ thời gian làm thêm giờ... Chính những sự cố này đã làm cho nhiều người lao động ngộ nhận, dễ xảy ra tiêu cực khi sang nước ngoài làm việc, ảnh hưởng tới phong trào XKLĐ ở cả một thôn, xã, rồi tới huyện.
"Qua rồi cái thời vàng son, cách đây 2-3 năm, thanh niên ở các vùng nông thôn rủ nhau đăng ký đi XKLĐ với mong ước đổi đời. Bây giờ, một số thị trường XKLĐ quen thuộc như Malaysia, Đài Loan...giống như cảnh chợ chiều ế ẩm..." - Một cán bộ xã thuộc huyện Vân Đồn đã ví như vậy khi trao đổi với chúng tôi về vấn đề XKLĐ tại địa phương.
Một tồn tại phổ biến hiện nay là, đối với những thị trường lao động phù hợp với đặc điểm tay nghề của lao động Quảng Ninh (lao động phổ thông, may mặc, xây dựng, chi phí thấp...) thì lại có thu nhập thấp, ngang bằng với thị trường lao động tại một số địa phương khác trong nước, nên chưa tạo được sự hấp dẫn với người lao động. Ngược lại, những thị trường lao động có thu nhập cao như Hàn Quốc, Nhật Bản... thì phần lớn các lao động ở vùng nông thôn lại không đủ khả năng tài chính để lo chi phí, cũng như tay nghề. Một số thị trường mới mở như Mỹ, Canada, Jordan... thì các doanh nghiệp XKLĐ lại đang ở giai đoạn thăm dò, chưa dám đưa lao động sang làm việc. Mặt khác, ông Trần Văn Viên, Trưởng phòng Lao động - Tiền Công (Sở LĐ, TB và XH) cho rằng: “Ngay chính bản thân người lao động còn nặng tâm lý ngại xa gia đình lâu ngày. Trong khi đó, chúng ta chưa tháo gỡ được tâm lý băn khoăn, lo lắng của người lao động, chưa tạo cho họ sự tin tưởng về hiệu quả kinh tế của việc đi lao động ở nước ngoài”.
Một công việc đơn giản nhất góp phần tăng cường XKLĐ là chính quyền địa phương phải tạo điều kiện cho người lao động hoàn thành các thủ tục để đi làm việc ở nước ngoài, thế nhưng ở nhiều nơi lại gây trở ngại cho người lao động. Anh Phạm Văn Huệ ở thôn Thái Lập, xã Tân Lập, huyện Đầm Hà không thể đi XKLĐ chỉ vì thời điểm anh hoàn thiện hồ sơ, thủ tục thì xã này bị chia tách địa giới hành chính làm 2 xã, không có ai giải quyết cho trường hợp của anh. Thậm chí có nhiều trường hợp khác không đi XKLĐ được vì một lý do hết sức “ngớ ngẩn” là, trong hồ sơ quy định phải viết tên bằng chữ in hoa không dấu, thì chính quyền xã lại khẳng định phần ghi họ tên phải đầy đủ cả dấu...
Giải pháp nào ?
Theo ông Nguyễn Đình Tuấn - Giám đốc Sở lao động, thương binh và xã hội: Để tiếp tục thực hiện có hiệu quả công tác XKLĐ trong thời gian tới, tỉnh và ngành chức năng phải tiến hành rà soát chính xác những đơn vị đang hoạt động XKLĐ trên địa bàn Quảng Ninh. Dựa vào các căn cứ, quy định của tỉnh về vấn đề tuyển dụng lao động đi XKLĐ của các doanh nghiệp để xem mức độ và hiệu quả hoạt động của từng doanh nghiệp như thế nào. Phải thu hồi thông báo cho phép tuyển dụng người lao động nếu doanh nghiệp nào vi phạm, hoặc hoạt động không hiệu quả… Giải pháp lựa chọn doanh nghiệp uy tín, ít rủi ro nhất là biện pháp để ngăn ngừa tối đa những rủi ro có thể xảy ra làm ảnh hưởng tới tiến trình đẩy mạnh XKLĐ ở Quảng Ninh. Một mặt, bản thân mỗi người lao động, mỗi đơn vị cấp xã, phường, thị trấn, cấp huyện, các cơ quan chức năng phải phát huy trách nhiệm hơn nữa trong vấn đề XKLĐ, coi đây là nhiệm vụ quan trọng của cả hệ thống chính trị nhằm góp phần xóa hộ đói, giảm hộ nghèo.
Lao động Quảng Ninh ở Sân bay Quốc tế Nội Bài,
chuẩn bị đi XKLĐ
Theo Bà Bùi Thị Nga, Giám đốc Trung tâm Đào tạo và XKLĐ thuộc Công ty CP Đầu tư XNK Quảng Ninh, điều đầu tiên là phải có được tiếng nói chung từ các cấp. Hiện nay, các Ban chỉ đạo XKLĐ ở hyện, thị xã đã thành lập, nằm trong Ban giải quyết việc làm, thế nhưng, hiệu quả hoạt động thúc đẩy XKLĐ tại địa phương của Ban này thì chưa có gì nổi bật . Ông Trương Công Ngàn - Chủ tịch UBND huyện Đầm Hà thì cho rằng : “Để người lao động nhận thức tốt, chúng ta cần phải tuyên truyền đến đâu, tư vấn đến đó. Tư vấn là khâu rất quan trọng; điều này nhằm xác định xem người tham gia XKLĐ có thực sự quyết tâm hay không. Ngoài việc đào tạo nghề và ngoại ngữ, các trung tâm cần phải đào tạo cả về văn hóa (nơi họ đến làm việc - PV) và tác phong lao động”. Còn ông Nguyễn Trường Giang, một người dân ở xã Liên Vị, huyện Yên Hưng (địa phương có số người đi XKLĐ nhiều nhất tỉnh) thì đề nghị : “Tỉnh cũng cần có sự linh hoạt mức cho vay XKLĐ. Không nhất thiết cứ phải 20 triệu đồng/người. Người nào cần ít (gia đình có điều kiện kinh tế) thì cho vay ít, ai khó khăn thì cho vay nhiều. Có như vậy, người lao động mới không ngại đăng ký, vì sợ không đủ kinh phí”. Kế đến là công tác đào tạo nghề - một vấn đề có tính quyết định hiệu quả kinh tế của người đi XKLĐ. Thu nhập cao hay thấp, phụ thuộc vào chính việc làm và tay nghề của họ. Qua 2 kỳ kiểm tra tiếng Hàn Quốc theo chương trình đưa người lao động Việt Nam đi làm việc tại Hàn Quốc của Bộ Lao động,TB&XH, thì có đến 90% lao động Quảng Ninh đạt kết quả là qua lớp học tiếng Hàn của Trung tâm Đào tạo và XKLĐ. Ông Nguyễn Xuân Hoà, Giám đốc Chi nhánh Ngân hàng Chính sách - Xã hội Quảng Ninh cho biết, những lao động có tay nghề, chỉ sau thời gian 5 tháng đã trả xong nợ, có trường hợp, chỉ sau hai tháng.
Mặt khác, về tâm lý, người lao động lo lắng là, “khi hết thời hạn lao động ở nước ngoài trở về, họ sẽ sống và làm việc như thế nào?”. Chính điều này tạo cho họ sự không an tâm. Bởi, lâu nay những người làm công tác XKLĐ chỉ mới có kế hoạch đưa lao động đi, chứ chưa có kế hoạch cho người lao động hết hạn trở về.
Như vậy, giải pháp để thúc đẩy công tác XKLĐ không phải khó thực hiện trong điều kiện hiện nay. Vấn đề chỉ ở chỗ, sự quan tâm và phối hợp đến đâu giữa chính quyền các cấp và các doanh nghiệp làm công tác này. Trao đổi với chúng tôi, nhiều vị lãnh đạo ở các huyện, thị xã và các cơ quan đảm nhận công tác XKLĐ đều khẳng định, nếu có quyết tâm và cách làm phù hợp, thì mục tiêu đặt ra của tỉnh (xuất khẩu 1.500 lao động /năm) trong giai đoạn đến năm 2010 không phải là khó thực hiện được.