Theo quy hoạch dự báo đến năm 2010, ngành du lịch Việt Nam sẽ đón từ 5- 5,5 triệu lượt khách du lịch quốc tế. Nhưng có điều, mục tiêu này sẽ là một bất cập lớn so với thực tế nếu xét trên phương diện số lượng và chất lượng của đội ngũ hướng dẫn viên du lịch hiện nay.
Đã đến lúc các doanh nghiệp du lịch cần nghiên cứu và tổ chức một cách hệ thống những nội dung dịch vụ của mình, để giữ chân khách du lịch, làm cho du khách cảm nhận về một môi trường du lịch có văn hóa và muốn đến thăm nó ít nhất một lần nữa với thời gian lưu trú và đi lại dài hơn.
Trong bức tranh tổng thể, tỷ lệ hướng dẫn viên du lịch được cấp thẻ trên đầu khách du lịch quốc tế của Việt Nam là 1/680. Tỷ lệ này còn thua xa nhiều quốc gia có lượng khách du lịch quốc tế vào khoảng 5 hoặc trên 5 triệu lượt/năm như Malaysia, Thái Lan, Singapore.
Tp.HCM, một địa phương thu hút đến 70% lượng khách du lịch quốc tế của toàn quốc (năm 2006 là 2.350.000 lượt khách so với 3.400.000 lượt trên cả nước) chỉ có vỏn vẹn trên 800 hướng dẫn viên du lịch, tức tỷ lệ hướng dẫn viên du lịch /khách du lịch quốc tế tại thành phố này chỉ là 1/2.937.
Cũng cần lưu ý, việc so sánh tỷ lệ hướng dẫn viên du lịch trên đầu khách quốc tế trên chưa xét đến sự so sánh toàn diện về các tiêu chuẩn khung quốc tế đối với hướng dẫn viên du lịch như trình độ ngoại ngữ, kỹ năng tác nghiệp, kiến thức văn hóa và lịch sử...
Vốn ngoại ngữ của hướng dẫn viên còn yếu
Một số điều tra đã cho thấy trong tổng số khoảng 5.000 hướng dẫn viên du lịch được cấp thẻ trên toàn quốc, chỉ có từ 5-12% hướng dẫn viên du lịch thông thạo một ngoại ngữ như Anh, Pháp, Nhật, Đức (tỷ lệ này cũng khá thấp so với những quốc gia dẫn đầu về du lịch trong khu vực châu Á).
Còn nếu một hội đồng thẩm định nào đó tỏ ra nghiêm khắc hơn khi nêu ra yêu cầu hướng dẫn viên du lịch phải thông thạo hai ngoại ngữ, thì e rằng người ta chỉ có thể tìm thấy vài ba trăm người là cùng.
Hoặc, cơ cấu hướng dẫn viên du lịch theo ngôn ngữ sử dụng cũng không tương xứng với cơ cấu khách du lịch quốc tế theo quốc tịch.
Về nguyên tắc, rõ ràng nhu cầu được đào tạo và sử dụng ngoại ngữ của hướng dẫn viên du lịch phải thỏa mãn cho cơ cấu khách du lịch theo quốc tịch với thứ tự ưu tiên từ cao nhất đến thấp nhất.
Chẳng hạn trong 11 tháng của năm 2006, trong bảng sắp hạng khách du lịch vào Tp.HCM qua sân bay Tân Sơn Nhất, Mỹ là quốc gia có số khách cao nhất với khoảng 280.000, kế đó là Nhật Bản với 211.000, sau đó là Đài Loan, Hàn Quốc, Australia, Trung Quốc, Pháp, Singapore, Malaysia, Canada, Anh.
Với cơ cấu khách như thế, dĩ nhiên ngoài tiếng Anh là ngôn ngữ mang tính quốc tế và tiếng Pháp cũng tương đối phổ thông, các công ty du lịch cung cấp hướng dẫn viên du lịch còn cần đặc biệt chú tâm đến tiếng Hoa, tiếng Nhật và cả tiếng Hàn.
Tuy nhiên, trong thực tế chỉ có 8,8 - 10,6% hướng dẫn viên du lịch ở Tp.HCM thạo tiếng Nhật, còn với tiếng Hàn thì chỉ có đúng 1 người!
Và vốn văn hóa cũng không cao?
Tuy vậy, ngoại ngữ lại không phải là yếu tố duy nhất quyết định chuẩn mực quốc tế của một hướng dẫn viên du lịch.
Đây cũng chính là một nguyên nhân, thuộc về mặt nhận thức, mà nhiều doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch, kể cả một số cơ sở đào tạo hướng dẫn viên du lịch đã không chú ý hoặc hầu như bỏ qua.
Bởi, trong suốt một thời gian dài mười mấy năm từ khi đất nước ta mở cửa, đa số doanh nghiệp chỉ tuyển nhân viên du lịch trên cơ sở thông thạo ngoại ngữ, góp phần tạo nên phong trào nhiều người đổ xô vào các trung tâm dạy tiếng nước ngoài.
Thế nhưng đến thời kỳ sau này, ngành du lịch Việt Nam đã vấp phải tình huống khó xử khi một số khá đông khách du lịch quốc tế, đặc biệt những người đến Việt Nam lần thứ hai, thứ ba, hoặc khách du lịch theo dạng chuyên gia, mà nói chung là dạng khách có trình độ văn hóa và nhu cầu thưởng thức văn hóa khá cao, đòi hỏi ngoài việc được đáp ứng những nhu cầu thông thường về ăn ở và đi lại, họ còn cần được thỏa mãn những hiểu biết về lịch sử, phong tục tập quán, một số nét văn hóa đặc trưng của vùng, khu vực, địa phương đi du lịch.
Đã không ít lần các hướng dẫn viên du lịch vấp phải câu hỏi của khách về nguồn gốc của một địa danh nào đó (như chùa Thiên Mụ hoặc sông Hương ở Huế) mà không thể trả lời được.
Tình hình này đã khiến một số doanh nghiệp du lịch Việt Nam dần nhận ra một điều tưởng như hết sức đơn giản nhưng lại ẩn chứa tính triết lý sâu xa: du lịch không chỉ là dịch vụ kinh doanh mà còn là văn hóa.
Do đó, sẽ chẳng quá ngạc nhiên khi ở Tp.HCM về sau này đã tổ chức một số lớp học chuyên đề về du lịch sinh thái và phát triển du lịch bền vững cho cán bộ quản lý lẫn hướng dẫn viên du lịch.
Bên cạnh đó, hướng dẫn viên du lịch còn cần nắm được kiến thức cơ bản về mỹ học và cơ sở văn hóa Việt Nam, kể cả lĩnh vực khảo cổ học.
Một mảng kiến thức khác cũng rất cần đối với người hướng dẫn viên du lịch là làm sao để biết cách nhìn và nhận ra, phân tích tâm lý du khách, tạo nên một cầu nối hiệu quả phi ngôn ngữ giữa mình và du khách.
Gần đây, một số ý kiến cho rằng trong ngành du lịch Tp.HCM còn tương đối ít cơ sở đào tạo hướng dẫn viên du lịch.
Theo chúng tôi, nếu xét về tỷ lệ hướng dẫn viên du lịch /đầu khách du lịch quốc tế, những ý kiến này là hoàn toàn xác đáng.
Điều mà nhiều doanh nghiệp du lịch đang cần để đáp ứng cho khách hàng là một đội ngũ hướng dẫn viên du lịch được chuyên nghiệp hóa không chỉ về ngoại ngữ mà còn cả các tình huống ứng xử.