Thực hiện ý kiến kết luận của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải về sản xuất, kinh doanh than và các giải pháp xử lý nạn khai thác, chế biến, vận chuyển, kinh doanh than trái phép trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh tại thông báo số 109/TB-VPCP ngày 26-4-2008 của Văn phòng Chính phủ. Uỷ ban nhân dân (UBND) tỉnh Quảng Ninh và Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) triển khai thực hiện kế hoạch với những nội dung sau:
>>Bàn các biện pháp lập lại trật tự trong hoạt động thăm dò, khai thác, chế biến, vận chuyển và tiêu thụ than
I/ Đối với tỉnh Quảng Ninh.
UBND tỉnh tăng cường công tác quản lý Nhà nước đối với hoạt động sản xuất kinh doanh than trên địa bàn, phối hợp với các Bộ, ngành trung ương tạo điều kiện cho TKV sớm hoàn thành việc cấp phép hoạt động khoáng sản than.
UBND các cấp và các ngành chức năng của tỉnh tạo điều kiện thuận lợi để các Công ty con của Tập đoàn TKV giải quyết nhanh các thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật để duy trì sản xuất than trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
1. Quản lý tài nguyên than trong và ngoài ranh giới mỏ.
Chính quyền địa phương các cấp và các ngành liên quan phối hợp chặt chẽ với TKV và các đơn vị thành viên của TKV xử lý các trường hợp khai thác, vận chuyển, chế biến than trái phép trong ranh giới mỏ.
UBND các huyện có trách nhiệm kiểm tra, ngăn chặn và xử lý các trường hợp khai thác, vận chuyển, chế biến than trái phép ngoài ranh giới các mỏ. Trong quá trình xử lý nếu vượt thẩm quyền, báo cáo UBND tỉnh giải quyết.
UBND cấp xã và công an phường, xã sở tại có trách nhiệm giúp đỡ theo đề nghị của các đơn vị thành viên TKV trong việc ngăn chặn khai thác, vận chuyển, chế biến than trái phép trong ranh giới mỏ. Trong quá trình xử lý nếu vượt thẩm quyền, báo cáo UBND cấp huyện giải quyết.
UBND tỉnh yêu cầu các tổ chức, cá nhân khi lập quy hoạch xây dựng khu dân cư, công trình cố định ở khu vực có tài nguyên than trong ranh giới quản lý tài nguyên của TKV phải có ý kiến bằng văn bản của cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền theo quy định.
2. Quản lý quá trình khai thác, sàng tuyển, vận chuyển, kho, bến, cảng than.
2.1. UBND các cấp và các cơ quan chức năng của địa phương chủ động kiểm tra giám sát xử lý các sai phạm theo quy định của pháp luật, đối với hoạt động khoáng sản than (thăm dò, khai thác, chế biến, vận chuyển, kinh doanh, kho bến, cảng) trên địa bàn và có trách nhiệm giúp đỡ theo đề nghị của các tổ chức thành viên của TKV giải quyết các vụ việc tiêu cực xâm hại đến tài sản, an ninh trật tự trong phạm vi quản lý của các đơn vị.
2.2. UBND và các cơ quan chức năng cấp phường, xã có trách nhiệm xoá bỏ các điểm thu mua than, tồn trữ than, bến than trái phép trên địa bàn, nếu tình hình phức tạp báo cáo cấp trên giải quyết.
UBND các huyện Đông Triều, Hoành Bồ, TX Cẩm Phả, Uông Bí, TP Hạ Long, nếu đơn vị nào để xảy ra tình trạng khai thác than trái phép, lập bến bãi không đúng quy hoạch thì chính quyền địa phương, cá nhân người đứng đầu đó phải chịu trách nhiệm trước UBND tỉnh.
2.3. Các ngành chức năng liên quan tham mưu giúp UBND tỉnh kiểm tra thu hồi giấy phép các cảng, bến thuỷ nội địa sử dụng sai mục đích, sai quy hoạch, kiên quyết xoá bỏ các cảng, bến trái phép.
3. Quản lý tiêu thụ than.
3.1. Sở Công thương, Cục Thuế, Cục Hải quan và các cơ quan chức năng có liên quan chủ động kiểm tra các hoạt động tiêu thụ than, thông báo cho các công ty liên quan và Tập đoàn để kịp thời chấn chỉnh các yếu kém, xử lý các sai phạm hoặc chủ động xử lý các sai phạm theo thẩm quyền.
3.2. Kể từ ngày 1-6-2008 các cơ quan Cảng vụ, Hải quan, Biên phòng tạm ngừng việc làm thủ tục xuất khẩu than tiểu ngạch qua cửa khẩu Vạn Gia, đồng thời tăng cường kiểm tra, xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân xuất khẩu lậu than.
II/ Đối với Tập đoàn TKV.
1. TKV và các tổ chức thành viên có trách nhiệm:
1.1. Thực hiện đúng các quy định của pháp luật có liên quan đến hoạt động thăm dò, khai thác, chế biến, vận chuyển, kinh doanh than tại tỉnh Quảng Ninh.
1.2. Khẩn trương hoàn thiện hồ sơ xin cấp giấy phép khai thác than cho các đơn vị thành viên trong năm 2008 theo thông báo 109/TB-VPCP ngày 26-4-2008 của Văn phòng Chính phủ.
1.3. Tuân thủ quá trình thanh tra, kiểm tra, giám sát của các cơ quan chức năng quản lý nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội trên địa bàn theo quy định của pháp luật.
2. Quản lý tài nguyên than trong và ngoài ranh giới mỏ.
2.1. TKV triển khai công bố ranh giới mỏ đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt cho các tổ chức thành viên thuộc TKV để thực hiện quản lý, bảo vệ tài nguyên than trong ranh giới mỏ và thông báo cho UBND tỉnh, UBND các cấp, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Công thương, Công an tỉnh và các cơ quan liên quan kèm theo bản đồ ranh giới các mỏ có toạ độ rõ ràng và tên công ty được giao quản lý bảo vệ, thăm dò, khai thác trước ngày 30-6-2008.
2.2. Mỗi công ty thành viên chịu trách nhiệm chính trong việc quản lý, bảo vệ tài nguyên than trong ranh giới mỏ được giao trước pháp luật, trước Tập đoàn và chính quyền địa phương (bao gồm cả vỉa than, lộ vỉa chưa khai thác và cả quá trình khai thác, sàng tuyển, vận chuyển, tàng trữ than tại kho, bến).
Mỗi công ty thành viên phải chủ động, thường xuyên kiểm tra, phát hiện các hoạt động khai thác than trái phép trong ranh giới mỏ được giao, kịp thời thông báo trực tiếp và bằng văn bản với chính quyền và công an phường, xã sở tại để phối hợp kiên quyết xử lý, ngăn chặn. Công ty có trách nhiệm huy động nhân lực, xe máy, vật tư, kinh phí để xử lý dưới sự chỉ đạo của UBND và công an phường, xã sở tại.
2.3. Quản lý tài nguyên than ngoài ranh giới mỏ: TKV và các công ty thành viên có trách nhiệm tham gia, huy động đủ lực lượng và hỗ trợ kinh phí cùng UBND các cấp ngăn chặn, xử lý các trường hợp khai thác, chế biến, vận chuyển than trái phép ngoài ranh giới mỏ.
3. Quản lý quá trình thăm dò, khai thác, sàng tuyển, vận chuyển, kho, bến, cảng than.
3.1. Công ty được giao quản lý sản xuất tại những công đoạn nào trong dây chuyền sản xuất than phải chịu trách nhiệm bảo vệ tài sản ở công đoạn đó, ngăn chặn, chống lại các hành động xâm hại đến tài sản (bao gồm than nguyên khai, than thành phẩm, bán thành phẩm, bã sàng, xít thải còn than có thể tận thu được).
3.2. Kho, bến, cảng than phải có tường rào ngăn cách bảo vệ chắc chắn, có cổng ra vào với biển tên công ty, xí nghiệp quản lý một cách rõ ràng. Nơi nào chưa có tường rào và cổng thì phải hoàn thành xây dựng chậm nhất đến cuối tháng 9 năm 2008.
3.3. Việc vận chuyển than từ nơi khai thác đến nơi sàng tuyển và đến kho, bến, cảng tiêu thụ chỉ được thực hiện trên các tuyến đường và phương tiện vận tải chuyên dụng do các công ty thành viên trong Tập đoàn sở hữu, không chở than bằng xe tải trên đường quốc lộ 18A từ Đông Triều đến Mông Dương và trên Tỉnh lộ 337. Dứt khoát không thuê xe ngoài các công ty thành viên TKV để vận chuyển than trong bất kể trường hợp nào, không thuê cảng, bến thuỷ nội địa trái quy hoạch, trái quy định của Tập đoàn để tàng trữ, tiêu thụ than. Riêng việc vận chuyển than cho các hộ sử dụng trong tỉnh Quảng Ninh có thể được sử dụng xe tải che kín, đảm bảo vệ sinh môi trường, an toàn giao thông và được đăng ký cụ thể biển đăng ký xe và tuyến đường vận chuyển với các cơ quan có thẩm quyền của địa phương.
3.4. Các trạm kiểm soát trên các tuyến đường chuyên dụng phải thực hiện đầy đủ nhiệm vụ kiểm soát từng xe chở than, chở vật tư, thiết bị qua trạm. Từng bước hiện đại hoá phương thức kiểm soát tại các trạm bao gồm cả việc lắp đặt, vận hành camera theo dõi.
4. Quản lý quá trình tiêu thụ than.
4.1. Tiêu thụ than trong nước phải được kiểm soát chặt chẽ từ khâu giao nhận đầu nguồn qua cân, đo đúng quy định tại nhà ga, cảng, bến thuỷ nội địa đến khâu vận tải với các phương tiện vận tải an toàn, có hồ sơ lý lịch đăng kiểm rõ ràng, hợp pháp đến khâu giao nhận tại điểm dỡ cuối nguồn bảo đảm sao cho không bị thất thoát về khối lượng, sai lệch về chất lượng.
4.2. Xuất khẩu than: Quản lý chặt chẽ khối lượng, chất lượng than trong quá trình giao than xuất khẩu tại cầu cảng chính và quá trình chuyển tải giao nhận hàng tại vùng chuyển tải Hòn Nét.
5. Quản lý, thực hiện quy hoạch phát triển ngành Than.
5.1. Sản lượng than:
Trong khi chờ Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược và Quy hoạch phát triển ngành Than Việt Nam giai đoạn 2006 đến 2015, có xét triển vọng đến năm 2025 phù hợp với chiến lược phát triển năng lượng quốc gia đến 2020, tầm nhìn đến 2050 tại Nghị quyết 18/NQ-TW ngày 25-10-2007 của Bộ Chính trị và Quyết định số 1855/QĐ-TTg ngày 27-12-2007 của Thủ tướng Chính phủ, sản lượng than sản xuất hàng năm được lấy theo chỉ tiêu kế hoạch do Thủ tướng Chính phủ giao Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư giao cho Tập đoàn. Hàng năm TKV phải báo cáo sản lượng than khai thác với UBND tỉnh và các ngành liên quan.
5.2. Về việc khai thác lộ thiên.
- Giảm dần sản lượng khai thác lộ thiên, đến sau năm 2015 chỉ còn khai thác lộ thiên ở vùng Cẩm Phả và có lộ trình giảm dần sản lượng khai thác lộ thiên sau năm 2020.
- Vùng Đông Triều, Uông Bí: Không khai thác lộ vỉa phía Nam dãy núi mà từ đường 18A nhìn thấy.
- Vùng Hòn Gai: TKV chỉ đạo sớm kết thúc khai thác lộ thiên theo Quy hoạch được duyệt, lập kế hoạch đóng cửa mỏ, phục hồi hoàn nguyên môi trường, môi sinh, đất đai, đầu tư hạ tầng cơ sở, khôi phục, cải tạo cảnh quan môi trường phù hợp quy hoạch chung của tỉnh.
5.3. Bảo vệ môi trường.
- Thực hiện nghiêm chỉnh quy định về lập, thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM), tổ chức thực hiện đầy đủ các nội dung theo báo cáo ĐTM và Quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM của cơ quan có thẩm quyền.
- Thực hiện nghiêm chỉnh việc hoàn nguyên môi trường, ký quỹ phục hồi hoàn nguyên môi trường theo quy định.
- Thực hiện nghiêm chỉnh việc quan trắc, giám sát môi trường, báo cáo môi trường theo quy định.
- Tạo điều kiện về nhà ở và việc làm cho nhân dân địa phương.
III/ Cơ chế phối hợp.
1. Mỗi năm 1 lần Thường trực Tỉnh uỷ, HĐND và UBND tỉnh và các sở, ban, ngành và UBND cấp huyện làm việc với Đảng uỷ Tập đoàn, Đảng uỷ Than Quảng Ninh, HĐQT, Tổng Giám đốc Tập đoàn và lãnh đạo các công ty thành viên để kiểm điểm việc thực hiện kế hoạch này, sửa đổi bổ sung nếu thấy cần thiết.
2. Sáu tháng 1 lần lãnh đạo UBND tỉnh cùng các sở, ban, ngành và các địa phương làm việc với Tổng Giám đốc Tập đoàn và lãnh đạo các công ty thành viên liên quan để kiểm điểm việc thực hiện kế hoạch này, sửa đổi bổ sung nếu thấy cần thiết.
3. Tập đoàn TKV và UBND tỉnh nhất trí giao cho các đơn vị thành viên TKV hỗ trợ kinh phí và huy động đủ lực lượng cùng UBND các cấp ngăn chặn, xử lý các trường hợp khai thác, chế biến, vận chuyển than trái phép ngoài ranh giới mỏ.
4. Công an tỉnh và Tập đoàn điều chỉnh, bổ sung quy chế phối hợp công tác cho phù hợp kế hoạch này.
5. Tuỳ điều kiện cụ thể các công ty thành viên TKV và các phường, xã hoặc huyện, thị xã, thành phố xây dựng quy chế phối hợp công tác trên cơ sở kế hoạch này, thường xuyên thông báo thông tin, trao đổi ý kiến để cùng giải quyết các cụ việc liên quan.
6. Định kỳ mỗi quý 1 lần (không kể đột xuất) lãnh đạo Trung tâm điều hành sản xuất của TKV tại Quảng Ninh làm việc với lãnh đạo UBND và công an các huyện, thị xã và TP Hạ Long để trao đổi thông tin, cùng nhau giải quyết những vấn đề nảy sinh.
7. Khi có những vấn đề nóng, phức tạp hoặc những vụ việc cấp dưới không tự giải quyết được, lãnh đạo Tập đoàn và lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh sẽ trực tiếp liên hệ trao đổi ý kiến với nhau để cùng giải quyết một cách nhanh nhất. Giám đốc Trung tâm điều hành sản xuất tại Quảng Ninh của Tập đoàn được giao nhiệm vụ trực tiếp chỉ huy các hoạt động lập lại trật tự khai thác, lãnh đạo kinh doanh than thường xuyên báo cáo tình hình với Tổng Giám đốc, Chủ tịch HĐQT TKV và lãnh đạo UBND và các cơ quan chức năng của tỉnh.
8. Cấp uỷ, chính quyền và các đoàn thể tỉnh Quảng Ninh và của Tập đoàn TKV tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, vận động nhân dân và cán bộ công nhân viên, người lao động của TKV thực hiện đúng quy định pháp luật, tích cực tham gia giám sát, phát hiện, tố giác các hoạt động khai thác kinh doanh than trái phép.
Kịp thời động viên khen thưởng các tổ chức, cá nhân có thành tích, xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm và thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng.
9. Các cơ quan truyền thông của tỉnh, của Tập đoàn tăng cường phối hợp, đưa tin đúng, kịp thời, góp phần tích cực vào việc thực hiện kế hoạch này.
Kế hoạch này được lập tại Quảng Ninh ngày 27-4-2008 và được phổ biến công khai để thực hiện.
TM. UBND tỉnh Quảng Ninh
Chủ tịch
Vũ Nguyên Nhiệm