Khắc phục những "rào cản" trong bảo vệ môi trường

Thực hiện công tác bảo vệ môi trường (BVMT), những năm qua  dưới sự chỉ đạo của Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh, các cấp, các ngành, các địa phương, cơ quan, doanh nghiệp và người dân trên địa bàn đã có những việc làm thiết thực... Nhờ vậy công tác quản lý, BVMT của tỉnh từng bước có chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, quá trình triển khai thực hiện vẫn còn bộc lộ những tồn tại, hạn chế nhất định. Để công tác này thời gian tới đạt hiệu quả cao,  ngày 18-8-2014, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định (số 1799/QĐ-UBND) phê duyệt Quy hoạch môi trường tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn 2030.

Đoàn giám sát của Ban pháp chế HĐND tỉnh kiểm tra khu vực xử lý nước thải tại Công ty Than Nam Mẫu - TKV.
Đoàn giám sát của Ban pháp chế HĐND tỉnh kiểm tra khu vực xử lý nước thải tại Công ty Than Nam Mẫu - TKV.

Thực tế công tác quản lý, BVMT ở Quảng Ninh những năm qua cho thấy vẫn còn nhiều tồn tại. Cụ thể như quy định về pháp luật BVMT còn thiếu đồng bộ, dẫn đến việc xử lý các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BVMT còn hạn chế. Một bộ phận người dân, doanh nghiệp nhận thức về công tác quản lý, BVMT còn chậm; sự phối hợp quản lý Nhà nước về môi trường giữa các cấp, các ngành còn hạn chế. Nhiều chỉ tiêu như: Đảm bảo môi trường không khí, hệ thống bãi rác hợp vệ sinh tại các địa phương cấp xã, cấp huyện và hệ thống thu gom, xử lý nước thải cho các khu dân cư đô thị tập trung; chỉ tiêu về các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ có lượng nước thải lớn, ô nhiễm phải có công trình xử lý nước thải… đều không đạt theo yêu cầu. Mặt khác, do quá trình đô thị hoá ở địa phương phát triển với tốc độ nhanh; sản lượng khai thác chế biến than những năm qua tăng nhanh, dẫn đến quá tải hệ thống các công trình công cộng và xử lý môi trường; hệ thống cơ sở hạ tầng về thoát nước, xử lý nước thải đầu tư không đồng bộ; hệ thống, thiết bị xử lý chất thải công nghiệp còn kém, lạc hậu không theo kịp nhịp độ phát triển. Đặc biệt sự mâu thuẫn giữa phát triển, khai thác các di tích danh thắng, di sản văn hoá hiện có ở địa phương với những ngành kinh tế công nghiệp trên địa bàn đã tạo nên những, sức ép rất lớn trong công tác quản lý, BVMT. Bên cạnh đó, Quảng Ninh có đường biên giới, đường biển, đường bộ tiếp giáp với Trung Quốc dài, rộng và tiếp giáp với nhiều tỉnh, thành mà công tác quản lý, BVMT chưa được quan tâm đúng mức... Điều này dẫn đến việc quản lý, BVMT liên tỉnh, xuyên biên giới của Quảng Ninh cũng còn gặp rất nhiều khó khăn, bất cập; lực lượng quản lý, BVMT toàn tỉnh tuy đã được kiện toàn, nhưng chưa đáp ứng yêu cầu trước tình hình mới…

Ông Nguyễn Mạnh Cường, Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường cho biết: “Quy hoạch môi trường tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn 2030” sẽ khắc phục những hạn chế, “rào cản” nói trên, đồng thời để công tác quản lý, BVMT ở Quảng Ninh ngày càng hiệu quả. Tuy nhiên, để làm được điều đó thì các cấp, các ngành cần triển khai quy hoạch đảm bảo tiến độ, mục tiêu đề ra. Các cấp, các ngành, các địa phương tiếp tục đẩy mạnh thực hiện các văn bản của cấp trên về quản lý, BVMT ở địa phương hiệu quả. Đồng thời tập trung triển khai thực hiện tốt một số giải pháp trọng tâm: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục nâng cao ý thức và trách nhiệm BVMT đến mọi tầng lớp nhân dân và các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh. Coi đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng từ nay đến năm 2015 và những năm tiếp theo; huy động cả hệ thống chính trị trên địa bàn cùng vào cuộc BVMT và tạo dư luận xã hội lên án nghiêm khắc các hành vi gây ô nhiễm môi trường. Xây dựng tiêu chí, chuẩn mực về môi trường để đánh giá kết quả công tác BVMT là chỉ tiêu thi đua của từng cấp, ngành, địa phương, tổ chức, doanh nghiệp, cơ quan, đoàn thể, bản làng, khu phố, cán bộ đảng viên, hội viên... Đồng chí Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường cũng cho rằng cần thành lập Ban chỉ đạo thực hiện công tác BVMT từ tỉnh tới các địa phương do đồng chí Chủ tịch UBND các cấp làm Trưởng ban và đại diện các ban, ngành, đoàn thể, MTTQ... làm thành viên. Cùng với đó là phải tăng cường công tác phòng ngừa, kiểm soát các nguồn gây ô nhiễm môi trường, nhất là môi trường nước, không khí, chất thải rắn (sinh hoạt và công nghiệp); đẩy mạnh công tác bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học; tăng cường năng lực, kiện toàn bộ máy quản lý môi trường; chủ động thực hiện hiệu quả các giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu; tập trung đầu tư các nguồn lực tài chính và kêu gọi đầu tư, khoa học công nghệ cho công tác quản lý, BVMT. Bên cạnh các nhiệm vụ trên, UBND tỉnh cũng cần có cơ chế chính sách khuyến khích, ưu đãi về môi trường đầu tư (chính sách đất đai, BVMT) và kêu gọi các tổ chức, cá nhân, các thành phần kinh tế trong và ngoài nước tham gia đầu tư trên địa bàn áp dụng công nghệ sản xuất tiên tiến, công nghệ xanh, thân thiện với môi trường. Các cấp, các ngành cần đẩy mạnh công tác cải cách thủ tục hành chính, giảm thời gian giải quyết hồ sơ cho doanh nghiệp trong lĩnh vực TN&MT; tăng cường công tác thanh kiểm tra, xử lý nghiêm các vi phạm BVMT. Cùng với đó, tỉnh cũng cần đẩy mạnh hợp tác quốc tế giới thiệu các công nghệ sản xuất tiên tiến, công nghệ sạch của nước ngoài cho các đơn vị, địa phương tìm hiểu, áp dụng nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất và BVMT. Đồng thời, đề nghị cấp thẩm quyền nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung và ban hành các văn bản thống nhất trong xử phạt các vi phạm pháp luật về BVMT đủ mạnh và phù hợp với thực tiễn để có tính thuyết phục và răn đe cao.

Tuấn Hương