Năm 2007, các cấp, các ngành, doanh nghiệp đã có rất nhiều cố gắng và tích cực triển khai các hoạt động về an toàn lao động. Ngoài làm tốt công tác tuyên truyền, hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra, điều tra tai nạn lao động, các đơn vị còn thực hiện việc đổi mới phương thức thanh tra và áp dụng ghi phiếu tự kiểm tra thực hiện pháp luật lao động nên đã tăng số lượng doanh nghiệp được thanh tra, kiểm tra.
Kiểm tra công tác an toàn đường lò tại Mỏ than Tân Lập thuộc Công ty Than Hòn Gai - TKV.
Ảnh: M.H
Tuy nhiên, ở một số đơn vị việc triển khai công tác AT-VSLĐ chưa đồng bộ, chưa tạo thành nếp; hệ thống sổ sách quản lý và điều hành sản xuất tại hiện trường còn thiếu và sơ sài; thực hiện công tác huấn luyện an toàn chưa đầy đủ; sử dụng lao động còn tuỳ tiện, nhất là tại các cơ sở khai thác đá.
Mặc dù có sự cố gắng và quan tâm của các cấp, các ngành, các doanh nghiệp song tình hình tai nạn lao động trên địa bàn tỉnh, đặc biệt là tai nạn lao động chết người vẫn còn diễn biến phức tạp, khó lường, các nguy cơ mất an toàn còn tiềm ẩn nhiều. Trong năm 2007 trên địa bàn tỉnh xảy ra 410 vụ tai nạn lao động làm 427 người bị nạn; trong đó có 34 vụ tai nạn lao động nghiêm trọng làm 42 người thiệt mạng (đứng thứ 3 trong toàn quốc), riêng các doanh nghiệp thuộc TKV xảy ra 28 vụlàm chết 36 người (giảm 5 vụ và 14 người chết so với năm 2006). Đoàn điều tra tai nạn lao động tỉnh đã kết luận và yêu cầu các đơn vị thực hiện 221 kiến nghị xử lý kỷ luật 302 người (trong đó có: 32 giám đốc, phó giám đốc; 62 trưởng phó phòng ban; 46 cán bộ phòng ban, 92 chánh phó quản đốc; 37 lò trưởng, tổ trưởng sản xuất và 33 công nhân); xử phạt hành chính 5 đơn vị; đề nghị cơ quan pháp luật xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự 1 vụ (Xí nghiệp Than Giáp Khẩu thuộc Công ty Than Hòn Gai).
Có thể nói nguyên nhân để xảy ra các vụ tai nạn lao động trên vẫn là do nhận thức về ý thức và trách nhiệm của các chủ doanh nghiệp trong công tác AT-VSLĐ chưa đồng đều; công nhân vi phạm quy trình kỹ thuật, thiếu kinh nghiệm, chủ quan tự gây tai nạn cho bản thân; một số doanh nghiệp tổ chức sản xuất còn thiếu khoa học, chưa sâu sát trong quản lý lao động và thực hiện các quy định an toàn lao động. Vẫn còn hiện tượng một số cán bộ, lãnh đạo, chỉ huy sản xuất ở một số công ty, xí nghiệp, công trường, phân xưởng vi phạm các quy định về quản lý kỹ thuật, quản lý lao động cũng như quản lý ATLĐ... Công tác tuyên truyền, huấn luyện các quy định pháp luật về AT-VSLĐ nhiều nơi vẫn chỉ mang tính hình thức đặc biệt là ở cấp phân xưởng, tổ sản xuất làm cho người lao động không nhận thức được đầy đủ về công tác AT-VSLĐ. Việc áp dụng hình thức khoán sản phẩm trong điều kiện chưa kiểm soát được việc thực hiện của người lao động đã dẫn tới tình trạng người lao động chủ quan làm bừa, làm ẩu, bớt xén quy trình, không tuân thủ đầy đủ các biện pháp kỹ thuật an toàn. Hiệu quả của công tác kiểm tra, giám sát, tự kiểm tra về ATLĐ còn mang tính hình thức, công tác kiểm tra thiếu sâu sát, nghiệp vụ kém nên không phát hiện được các vi phạm hoặc có nhưng nể nang xử lý chưa nghiêm túc, thiếu kiên quyết.
Để thực hiện tốt công tác AT-VSLĐ các cấp, ngành, doanh nghiệp, đơn vị cần đẩy mạnh việc phòng ngừa tai nạn lao động hơn nữa. Tăng cường đổi mới công tác huấn luyện AT-VSLĐ để làm chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa về nhận thức và ý thức của người sử dụng lao động và người lao động làm cho mọi người có trách nhiệm thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Nâng cao chất lượng công tác thanh, kiểm tra AT-VSLĐ, mở rộng phạm vi và đối tượng thanh tra tập trung vào các doanh nghiệp có nguy cơ cao về mất AT-VSLĐ, doanh nghiệp ngoài quốc doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các công trình trọng điểm. Coi trọng công tác tự kiểm tra của doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất kinh doanh để kịp thời xử lý những vi phạm ATLĐ và yêu cầu các tổ chức, cá nhân có sử dụng từ 100 lao động trở lên phải thực hiện quy chế tự kiểm tra thực hiện pháp luật lao động. Tiếp tục cải tiến và nâng cao chất lượng công tác điều tra TNLĐ và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm dẫn đến TNLĐ nghiêm trọng.