Thực hiện nội dung các giấy phép khai thác khoáng sản đã cấp, các đơn vị thuộc TKV đã tổ chức cắm, lập hồ sơ ranh giới 63/64 khu vực khai thác.
Sở Tài nguyên và Môi trường đã phối hợp với các sở, ngành liên quan, UBND các huyện, thị xã trên địa bàn kiểm tra, xác nhận mốc ranh giới các khu vực khai thác than tại thực địa với các đơn vị ngành Than và TKV. Tuy nhiên, điều đáng quan tâm ở đây đó là tình trạng vi phạm các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật an toàn trong khai thác của nhiều đơn vị hoạt động kinh doanh than đang diễn ra khá phổ biến.
Trong chương trình thực hiện kế hoạch phối hợp giữa UBND tỉnh và TKV, cuối năm 2009, Sở Công Thương cùng Sở Tài nguyên và Môi trường đã thực hiện kiểm tra hồ sơ pháp lý, kiểm tra thực địa tại 17 khu vực khai thác than trong tổng số 64 khu vực của 20 đơn vị được cấp giấy phép khai thác. Đến thời điểm kiểm tra mới có 7/19 dự án hoàn thành việc lập, thẩm định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc đề án bảo vệ môi trường; 8/63 dự án thực hiện kỹ quỹ cải tạo phục hồi môi trường; 34/64 dự án nộp thiết kế mỏ; 100% các đơn vị chưa thực hiện chuyển đổi mục đích sử dụng rừng, đất rừng phòng hộ sang đất sản xuất kinh doanh; lập báo cáo chuyển đổi cấp trữ lượng, cấp tài nguyên trình Hội đồng đánh giá trữ lượng khoáng sản công nhận và thực hiện điều chỉnh lại nội dung các giấy phép trên cơ sở trữ lượng mới. Đặc biệt trong quá trình kiểm tra đoàn kiểm tra còn phát hiện nhiều trường hợp vi phạm quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật an toàn trong khai thác than. Cụ thể là tại mỏ than Ngã Hai thuộc Công ty TNHH MTV Than Quang Hanh; tại mỏ than Khe Tam của Tổng Công ty Đông Bắc; tại khu II cánh gà mỏ than Vàng Danh thuộc Công ty TNHH MTV Than Uông Bí; tại mỏ than Hà Ráng của Công ty TNHH MTV Than Hạ Long, trong giấy phép khai thác của các đơn vị này quy định khai thác bằng phương pháp hầm lò nhưng trên thực tế đã thực hiện cả khai thác lộ thiên. Điều này dẫn đến tình trạng không tuân thủ đúng dự án và thiết kế mỏ cũng như không đảm bảo nội dung báo cáo tác động môi trường và không có thủ tục thuê đất.
Bên cạnh đó, có nhiều đơn vị khi tiến hành khai thác chưa có thiết kế mỏ được lập, thẩm định và phê duyệt như: Công ty CP Than Đèo Nai đối với dự án đầu tư xây dựng công trình cải tạo, mở rộng mỏ than Đèo Nai; Tổng Công ty Đông Bắc với dự án đầu tư khai thác than hầm lò khu Dân Chủ mỏ Quảng La, dự án đầu tư khai thác than hầm lò khu Quảng La mỏ Quảng La. Nhiều đơn vị thực hiện khai thác ngoài ranh giới được cấp phép, điển hình là Công ty TNHH MTV Than Hạ Long tại khu Đông Bắc Ngã Hai giới hạn khai thác theo giấy phép từ lộ vỉa đến -50m nhưng trên thực tế đơn vị này đã khai thác ở mức -95m. Một đơn vị khác là Tổng Công ty Đông Bắc, khu mỏ Tây nam Khe Tam được giới hạn khai thác theo giấy phép đến mức -50m nhưng hiện tại đơn vị đã khai thác từ mức -82m đến -50m; mỏ nam Khe Tam được giới hạn khai thác từ mức +45m đến -150m nhưng hiện tại đang khai thác mức +45m đến +200m.
Đối với lĩnh vực chế biến khoáng sản hầu hết các đơn vị chế biến than đều chưa có giấy phép chế biến theo quy định. Việc xây dựng cơ sở hạ tầng đường vận tải ngoài mỏ và bến cảng xuất than còn chậm so với tiến độ đã cam kết trong đó có dự án đường băng tải ống Mạo Khê đi Bến Cân và các cụm cảng.
Theo đánh giá của Sở Công Thương, nguyên nhân của tình trạng trên phần lớn do sự chỉ đạo của TKV đối với các đơn vị thành viên chưa sát sao. Thêm vào đó, trong quá trình thực hiện quy trình quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình các đơn vị thực hiện chưa đầy đủ cơ sở pháp lý hoặc xem nhẹ vai trò của chính quyền sở tại. Theo khoản 1, Điều 10 Nghị định 12/2009/ NĐ-CP ngày 12-2-2009 của Chính phủ và Mục b, khoản 4, phần I của Thông tư số 3 ngày 18-6-2007 của Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công Thương) quy định toàn bộ dự án đầu tư xây dựng công trình hoạt động khoáng sản trước khi chủ đầu tư phê duyệt nhất thiết phải có ý kiến về thiết kế cơ sở của cơ quan quản lý Nhà nước trên địa bàn về sự phù hợp của thiết kế cơ sở với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch mạng hạ tầng kỹ thuật và các quy hoạch khác có liên quan. Tuy nhiên, ở hầu hết các dự án khai thác mỏ của TKV đều không xin ý kiến của các cơ quan quản lý Nhà nước trên địa bàn tỉnh mà đã phê duyệt. Chính điều này dẫn tới những vướng mắc trong thủ tục thuê đất khi dự án đã được phê duyệt nhưng không phù hợp với quy hoạch xây dựng, quy hoạch sử dụng đất. Về phía tỉnh một số văn bản quy định quản lý đầu tư dự án chưa thống nhất, thiếu sự đồng bộ...
Có thể thấy, quá trình thực hiện các dự án cũng như khi tiến hành khai thác của các doanh nghiệp trong ngành than đang có nhiều lỗ hổng lớn trong việc thực hiện các quy định của giấy phép đã cấp và các quy định thuộc quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật an toàn trong khai thác. Giải quyết vấn đề này, trách nhiệm chính vẫn là ngành Than. Đó là tăng cường quan tâm chỉ đạo sát sao việc rà soát và giao kế hoạch khai thác cho các đơn vị đảm bảo phù hợp với nội dung giấy phép đã được cấp và các quy định của pháp luật; rà soát lại hiện trạng khai thác để điều chỉnh đối với những khu vực khai thác than không có giấy phép hoặc khai thác không đúng nội dung giấy phép quy định...