Thời gian qua, tốc độ đô thị hoá trên địa bàn Quảng Ninh diễn ra nhanh chóng, đặc biệt là ở các đô thị lớn như Hạ Long, Móng Cái, Cẩm Phả, Uông Bí... Bên cạnh đó, việc phát triển các khu đô thị, khu công nghiệp với nhiều mô hình thoát nước và xử lý nước thải riêng lẻ theo đặc thù từng khu vực đã gây khó khăn cho công tác quản lý và xây dựng hệ thống thoát nước và xử lý nước thải chung cho cả đô thị.
Để giảm thiểu ô nhiễm môi trường, trong những năm gần đây, các địa phương trong tỉnh đã không ngừng được đầu tư, nâng cấp hệ thống xử lý nước thải, rác thải cũng như trang thiết bị máy móc để phục vụ công tác này. Qua đó, bước đầu đã đem lại hiệu quả nhất định. Nhiều khu vực bị ô nhiễm trên địa bàn đã được xử lý, đem lại môi trường trong sạch hơn cho người dân. Tuy nhiên, có thể thấy việc đầu tư để xử lý môi trường hiện nay trên địa bàn tỉnh mới chỉ tập trung tại một số khu vực nhất định, tại nhiều khu vực khác, người dân vẫn phải đối mặt với những nguy cơ về ô nhiễm môi trường. Điều này cho thấy, việc quy hoạch và đầu tư các khu xử lý nước thải, rác thải đảm bảo có hệ thống và đồng bộ không thể chậm trễ hơn được nữa. Từ hiện trạng... Hiện nay trên địa bàn tỉnh hệ thống thoát nước mưa, thu gom và xử lý nước thải hầu hết chưa đáp ứng được yêu cầu. Hầu hết mạng lưới cống rãnh tiêu thoát chủ yếu tập trung ở khu vực trung tâm và thực hiện chức năng thoát nước mưa là chính. Tỷ lệ nước thải được thu gom vào các tuyến cống còn thấp và chủ yếu vẫn được thải trực tiếp ra môi trường đe dọa đến chất lượng môi trường nước mặt và vệ sinh môi trường sống các khu dân cư. Hệ thống thoát nước phần lớn được sử dụng chung cho thoát nước mưa và nước thải sinh hoạt các loại. Hướng thoát nước chính của tất cả các tuyến cống là chảy vào các tuyến suối bắt nguồn từ trên cao đổ ra biển. Nước thải sinh hoạt từ hộ gia đình hầu hết được xả trực tiếp xuống các kênh, rãnh thoát nước. Tuy nhiên, tại những khu vực mới phát triển ở các khu lấn biển, nước thải chủ yếu được xử lý ở các bể tự hoại gia đình sau đó được xả ra kênh thoát nước, nhất là các khu vực ở xa các khu trung tâm, nước thải tự thấm xuống đất hoặc tích tụ tại các điểm trũng như ao hồ. Tại một số bệnh viện đã có hệ thống xử lý nước thải. Tuy nhiên, các hệ thống này chưa hoàn chỉnh nên nước thải bệnh viện sau xử lý vẫn chưa đạt tiêu chuẩn vệ sinh môi trường theo quy định. Đặc biệt, khu vực Cẩm Phả có lượng nước thải từ mỏ than ra khoảng 15.000m3/ ngày. Đặc trưng của nước thải mỏ là có tính axit cao, ăn mòn kim loại và làm ô nhiễm môi trường. Ngay như TP Hạ Long là địa phương được đánh giá có hệ thống xử lý nước thải hoàn thiện nhất, nhưng vẫn còn hạn chế, tình trạng ô nhiễm môi trường do nước thải ứ đọng, ngập lụt vẫn xảy ra ở một số khu vực mỗi khi có mưa lớn. Điển hình như khu vực Hà Tu, Hà Phong, Hà Lầm, Cao Xanh mạng lưới mương cống do không được thường xuyên bảo dưỡng, nạo vét nên bị xuống cấp nghiêm trọng. Hoạt động khai thác khoáng sản, nhất là khai thác than đã xả xuống các dòng sông, suối hồ chứa một lượng lớn xỉ và các loại vật liệu thừa, do đó không những làm bồi lấp dòng chảy các dòng sông, thu hẹp dung tích hồ chứa mà còn làm chất lượng nguồn nước mặt bị suy giảm. Chất thải rắn của các đô thị cũng là một trong những nguyên nhân trực tiếp gây ô nhiễm môi trường trong đó có môi trường nước. Theo kết quả quan trắc tại các con sông thuộc khu vực Đông Triều, Mạo Khê, Uông Bí có hàm lượng BOD5 (là lượng oxy cần thiết để oxy hoá hết các chất hữu cơ và sinh hoá do vi khuẩn gây ra có trong nước nói chung và nước thải nói riêng) từ 4-10mg/lít; hàm lượng dầu trên các sông Cầm, sông Đá Bạc cao hơn nhiều so với mức độ cho phép từ 0,65-0,8mg/lít. ...Đến quy hoạch Trước thực trạng thoát nước và xử lý nước thải hiện nay, trên cơ sở phân tích quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội với điều kiện tự nhiên, các nhà khoa học đã xây dựng quy hoạch hệ thống thoát nước mưa; hệ thống thu gom và xử lý nước thải. Theo dự báo tổng lượng nước thải trên địa bàn tỉnh vào năm 2015 khoảng 300.000m3/ngày đêm. Do đó, việc quy hoạch xây dựng các tuyến cống và trạm xử lý nước thải phù hợp đáp ứng được yêu cầu thực tế là đòi hỏi rất bức thiết trong quá trình đô thị hoá hiện nay. Trong quy hoạch này tiếp tục xây các tuyến cống nhánh từ các khu dân cư xả vào các cống ngang; xây các tuyến cống phía núi cho khu dân cư dọc quốc lộ 18 xả vào cống thoát nước hiện có dọc theo trục đường 18. Bên cạnh đó, cải tạo các tuyến suối gồm nạo vét, xây kè bổ sung các đoạn chưa có kè suối, mở rộng các điểm lòng suối bị thu hẹp; thay thế tuyến cống hộp hai bên quốc lộ 18 bằng bê tông cốt thép với hướng thoát nước theo độ dốc thực tế của địa hình. Đối với khu vực đô thị như Hạ Long, Cẩm Phả, Uông Bí, Móng Cái xây dựng các giếng tách lưu lượng để thu gom nước thải từ các tuyến cống chung. Từ giếng tách lưu lượng nước thải được dẫn theo tuyến cống bao tự chảy về trạm xử lý nước thải. Những khu quy hoạch mới sẽ đầu tư xây dựng hệ thống thu gom nước thải riêng; hệ thống ống riêng bao gồm mạng lưới ống chính cấp 1 và mạng lưới ống cấp 2 để thu gom từ các hộ dân. Thoát nước và xử lý nước thải các khu công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp được giải quyết riêng. Mức độ xử lý tuỳ thuộc vào yêu cầu của mỗi khu vực và môi trường tiếp nhận nhưng phải tuân thủ theo quy chuẩn quốc gia về nước thải công nghiệp. Đối với các khu vực đô thị, trung tâm thương mại, giải trí mới, quy hoạch sẽ được xây dựng hệ thống thoát nước mưa và xử lý nước thải riêng hoàn toàn. Nước thải được thu gom bằng hệ thống cống nước thải riêng và đấu nối vào mạng lưới cống bao nước thải của đô thị. Các địa phương có địa hình dốc nhiều đồi núi như Bình Liêu, Ba Chẽ, Tiên Yên đều có đặc điểm chung gần như chưa có các hạng mục xây dựng chính thuộc hạ tầng cơ sở (đường, điện, cấp và thoát nước). Đây là một thuận lợi cho việc đầu tư đồng bộ hệ thống cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh theo đó hoàn thiện mạng lưới thoát nước trong các khu trung tâm đô thị hiện có; xây dựng hệ thống thoát nước cho các khu đô thị mới hình thành; tạo sự liên thông giữa các kênh rạch tạo điều kiện thau rửa đảm bảo yêu cầu vệ sinh cao. Theo đó, công nghệ xử lý nước thải cho các khu đô thị này là xử lý bằng công nghệ sinh học nhân tạo kết hợp với sinh học tự nhiên.
Mỗi khi mưa to, các hộ dân ở ngõ 17, phường Cao Thắng (TP Hạ Long) lại đối diện với tình trạng ngập lụt.
Ảnh: Anh Tuấn
Hệ thống xử lý nước thải của Khu công nghiệp Cái Lân.
Ảnh: Đỗ Phương
Có thể thấy, trong quá trình phát triển đô thị như hiện nay quy hoạch tổng thể thoát nước và xử lý nước thải các đô thị trên địa bàn tỉnh là việc làm rất cần thiết góp phần khắc phục tình trạng ngập lụt, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, nâng cao đời sống tinh thần của người dân và các đô thị, tạo điều kiện thu hút các nhà đầu tư đến đầu tư kinh doanh.