Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng (KBTTNĐS-KT) có diện tích 15.637 ha. Vùng đệm, vùng lõi của Khu bảo tồn nằm trên đất của 5 xã Đồng Sơn, Kỳ Thượng, Vũ Oai, Đồng Lâm, Hòa Bình. Năm 2002, khi KBTTNĐS-KT được thành lập thì đã có 128 hộ dân là người Dao đang sinh sống trong vùng lõi và đều đã được cấp quyền sử dụng đất.
Điều đó gây không ít khó khăn cho việc quản lý Khu bảo tồn, vì các hộ dân này đều không có nghề nghiệp ổn định, chủ yếu sống dựa vào săn bắn thú, khai thác tre, gỗ, và các loại cây làm thuốc v.v… Khi KBTTNĐS-KT được thành lập, các hoạt động này bị cấm khiến cho người dân rơi vào ''hoàn cảnh khó khăn''…
Các chuyên gia nước ngoài trong Hội thảo đánh giá nhu cầu bảo tồn khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng tại Hoành Bồ.
Cái khó cho sự hoà hợp giữa Khu bảo tồn với các hộ dân sống trong vùng lõi, vùng đệm Khu bảo tồn là mọi hoạt động của người dân, dù chỉ là các công việc hết sức bình thường, cũng làm ảnh hưởng tới thiên nhiên cần bảo vệ. Đơn giản nhất là việc người dân vào rừng hái củi khô, việc này không thể xử lý được, nhưng nếu nó tồn tại hàng ngày trong Khu bảo tồn cũng dẫn đến sự mất đi tính đa dạng của hệ sinh thái. Vì số củi được khai thác hàng ngày nếu cộng lại hàng năm là rất lớn; đó chưa kể khi hết củi khô người dân lại chặt cây tươi rồi… để khô! Theo tính toán của các chuyên gia rừng Thụy Điển, cứ 32 loài gỗ bản địa, khi chết đi thì sẽ hỗ trợ cuộc sống cho 6.000-7.000 loài sinh vật. Trong khi KBTTNĐS-KT theo tính toán sơ bộ có khoảng 485 loài cây bản địa. Cây khô khi chết đi sẽ tạo ra mùn, giữ độ ẩm cho đất và là nơi sinh sống của nhiều loại phong lan, mộc nhĩ, các loài này lại đem lại cuộc sống cho nhiều loại ong, kiến, mối, còn ong, kiến, mối lại là thức ăn của nhiều loài động vật nhỏ. Các động vật nhỏ lại là thức ăn của các loài động vật lớn v.v... Do vậy chỉ đơn giản là người dân vào Khu bảo tồn lấy củi cũng ảnh hưởng không nhỏ trong việc bảo đảm sự cân bằng sinh thái của Khu bảo tồn.
Trong buổi Hội thảo đánh giá nhu cầu bảo tồn của KBTTNĐS-KT diễn ra vào trung tuần tháng 4 vừa qua tại huyện Hoành Bồ. Ông Keith Willams, người Anh, là chuyên gia lập kế hoạch bảo tồn đa dạng sinh học và sinh thái của nhóm Hỗ trợ kỹ thuật vùng miền Bắc, cho biết: ''KBTTNĐS-KT chỉ là con số ít còn giữ các nguồn gen quý mà chưa được đầu tư quy mô''. Thậm chí ngay cả ranh giới giữa khu bảo tồn và khu vực dân cư, cũng chỉ được hiểu một cách đại khái - Đại thể như ''chỗ này là khu dân cư, chỗ kia là khu bảo tồn'', ranh giới thường biểu thị là dòng suối, cái cây, thậm chí là hòn đá. Còn về việc cắm mốc thì một lãnh đạo Khu bảo tồn cho biết: "Chúng tôi chưa có kinh phí để làm việc này”. Theo các cán bộ kiểm lâm, sau gần 7 năm hoạt động, tình trạng khai thác, săn bắn của người dân đã giảm khoảng 70%. Các cán bộ kiểm lâm khu bảo tồn cũng đã có nhiều cố gắng để giúp đỡ bà con phát triển sản xuất và có thu nhập ngoài rừng nhằm hạn chế việc khai thác rừng. Nhiều người dân đã từ bỏ công việc khai thác rừng để sống bằng các nghề trồng rừng và chăn nuôi trâu bò. Thế nhưng, điều này lại cũng gây ảnh hưởng đến khu bảo tồn, vì nhiều loài cây trong Khu bảo tồn vốn là món ăn khoái khẩu của trâu bò, trong khi những người dân miền núi vốn có thói quen thả trâu tự do trong rừng có khi hàng tháng trời mới đi tìm trâu, bò về. Còn khi người dân trồng rừng, họ buộc phải phá rừng cũ để có đất trồng rừng mới… Có ý kiến được nhiều người tán thành là nên tạo cho người dân đang sống ở vùng lõi của khu bảo tồn một quyền lợi nhất định nào đó để họ thấy rằng việc bảo vệ rừng gắn liền với cuộc sống của họ, có nghĩa là khi mất rừng họ cũng mất quyền lợi; từ đó họ trở thành những người bảo vệ rừng tự giác. Thế nhưng, ý kiến thì hay nhưng việc thực hiện lại khó, vì nó đòi hỏi không ít tốn kém, trong khi nhiều dự án thiết thực hơn hiện tại còn không có tiền để đầu tư.
Theo tài liệu báo cáo của KBTTNĐS - KT, trong Khu bảo tồn có 485 loài thực vật, trong đó có 5 loài được xếp trong sách đỏ Việt Nam như trầm hương Trung Hoa, vũ hương, lát hoa, đại hải, ba kích, động vật có 249 loài, trong đó có 30 loài động vật quý hiếm đã được ghi trong sách đỏ Việt Nam, như báo lửa, voọc đen, voọc xám, khỉ vàng, khỉ mặt đỏ, cu ly lớn, cu ly vằn, gấu ngựa, báo gấm, báo hoa mai, cầy gấm, mèo gấm, chó sói v.v... Đây là các loài có giá trị bảo tồn gen rất cao, đang được các nhà khoa học trong nước và thế giới rất quan tâm. Các con số được đưa ra thật ấn tượng nhưng rất tiếc nó lại là những con số được cập nhật từ năm 1992, gần hai chục năm sắp qua, liệu những loài động vật hay thực vật quý hiếm này có còn như trong báo cáo hay không? Và để có những số liệu mới hơn, xem ra còn khó khăn, vì từ khi thành lập đến nay, KBTTNĐS-KT vẫn chưa có một cuộc điều tra khảo sát quy mô và tỉ mỉ nào vì chưa có nguồn kinh phí để thực hiện. Gần đây nhất vào năm 2007, KBTTNĐS-KT đã có cuộc khảo sát của các nhà khoa học đến từ trường đại học Khoa học tự nhiên, Viện Tài nguyên Sinh học Hà Nội, các chuyên gia của Viện Tài nguyên Sinh vật Sant Petersburg (Nga) và đã phát hiện nhiều loài động vật quý hiếm trong Khu bảo tồn như cá có bụng hoa (có trong sách đỏ Việt Nam), 43 loài ếch nhái, cá sấu cạn. Năm 2008, Khu bảo tồn đã bảo vệ xong đề tài nghiên cứu trồng 6 ha cây dổi lụa (loài cây được ghi trong sách đỏ Việt Nam). Gần đây nhất trong cuộc Hội thảo đánh giá nhu cầu bảo tồn KBTTNĐS-KT, diễn ra vào ngày 13, 14 tháng 4 tại huyện Hoành Bồ. Ông Bàn Sinh Hương, đại diện cho xã Kỳ Thượng, nơi có nhiều người dân đang sống ở vùng lõi của Khu bảo tồn, nhận định: ''Khu bảo tồn vẫn còn tồn tại các loài động vật như gấu, nai, hoẵng, sơn dương v.v…, chỉ có điều chúng còn rất ít”.
Như vậy, việc đề ra kế hoạch bảo vệ Khu bảo tồn là rất cần thiết, trong khi hầu hết các cán bộ kiểm lâm và các lãnh đạo xã nằm ở vùng đệm, vùng lõi Khu bảo tồn đều khẳng định, hiện nay tình trạng lâm tặc săn bắt thú rừng khá cao. Trong đợt vận động giao nộp vũ khí vật liệu nổ vừa qua, chỉ riêng người dân sống ở quanh KBTTNĐS-KT cũng đã giao nộp 148 khẩu súng săn. Thế nhưng, không còn súng thì bà con lại dùng bẫy để săn bắt thú, nguy cơ sát hại thú rừng còn cao hơn. Đã thế, KBTTNĐS-KT lại chưa thành lập hạt kiểm lâm nên các cán bộ Khu bảo tồn, về mặt nguyên tắc, không có quyền xử lý lâm tặc…
Khi nói về KBTTNĐS-KT, Ông Aron Mark Berger, một chuyên gia xã hội người Mỹ, hiện đang làm việc cùng nhóm hỗ trợ kỹ thuật vùng miền Bắc, nói: ''Việc đầu tư vào KBTTNĐS - KT hiện nay tuy muộn nhưng còn kịp; hơn là sau này chẳng còn để mà đầu tư. Và lúc ấy việc bảo tồn cũng chẳng cần thiết nữa vì còn gì để mà mất".