Kìm chế lạm phát cần giải pháp dài hạn

“Chúng ta đã có những bài học về sự can thiệp vào một số thị trường như xăng dầu, xi măng, điện lực,.. Về căn bản định hướng theo tôi là đúng, nhưng các mặt hàng dần dần cũng phải mang tính thị trường hơn”. 

Tiến sỹ Võ Trí Thành, Trưởng ban Nghiên cứu Chính sách Hội nhập Kinh tế Quốc tế, Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương chia sẻ với VTC News những đánh giá về các giải pháp kìm chế lạm phát của Chính phủ gần đâu .

 

- Ông nhìn nhận thế nào về các chính sách vĩ mô của Việt Nam trong vấn đề kiểm soát lạm phát năm 2007 và việc nhà nước tung ra 112.000 tỉ đồng trong bảy tháng đầu năm để hút 7 tỉ USD khỏi thị trường?

 

Kìm chế lạm phát cần giải pháp dài hạn ảnh 1
Tiến sỹ Võ Trí Thành.

- Để đảm bảo tỷ giá có sức cạnh tranh thì một số nước, họ cũng mua vào rất nhiều ngoại tệ nhằm giảm áp lực làm tăng giá đồng tiền của họ. Khi mua ngoại tệ vào thì cung tiền trên thị trường lại tăng. Điều này rất dễ gây lên áp lực đẩy lạm phát tăng cao. Nếu không muốn tăng lạm phát thì nhà nước lại phải hút lượng tiền đó về bằng cách tăng dự trữ bắt buộc hoặc bằng các thị trường mở.

 

Tất cả các biện pháp đó nói chung đều chịu tổn phí, về lâu dài tổn phí sẽ rất cao. Nên trong bối cảnh luồng vốn vào nhiều thì chính sách tiền tệ thường rất khó ứng xử.

 

Chúng ta đã thu được phần lớn lượng tiền tung ra để mua ngoại tệ. Tuy nhiên đó còn là vấn đề thời điểm. Năm 2007, thời điểm thu tiền vào là hơi chậm, chúng ta mới chỉ thực hiện các biện pháp quyết liệt mới chỉ từ tháng 6 năm nay.

 

Cái thứ 2 tôi cho là cũng có vấn đề là về chính sách tài khoá. Về hiệu qủa của nhà nước trong đầu tư vào cơ sở hạ tầng cũng là yếu tố làm tăng tổng cầu. Trong một chừng mực nhất định cùng với yếu tố tiêu dùng nó có thể đẩy lạm phát lên.

 

Vấn đề tăng lương, theo tôi cách xử lý của Chính phủ trong thời gian qua cơ bản mang tính tình thế hơn là giải quyết những vấn đề căn bản liên quan đến cơ cấu cải tổ bộ máy chức năng nhà nước hay cải cách thị trường lao động...Đòi hỏi của tiền lương không chỉ là chỉ số hoá theo gía cả mà cơ bản phải dựa trên năng suất lao động.

 

Vấn đề tăng lương, theo tôi cách xử lý của Chính phủ trong thời gian qua cơ bản mang tính tình thế hơn là giải quyết những vấn đề căn bản.

Chúng ta đã có những bài học về sự can thiệp vào một số thị trường như xăng dầu, xi măng, điện lực,.. Về căn bản định hướng theo tôi thì đúng, các mặt hàng dần dần cũng phải mang tính thị trường hơn,tuy nhiên trong bối cảnh đặc biệt phải xử lý như thế nào thì còn khá là lúng túng.

 

Về dài hạn, xử lý tốt nhất là phải thay đổi cấu trúc thị trường cho cạnh tranh hơn, minh bạch hơn tránh thế độc quyền, hoặc liên kết. Nhà nước phải có hệ thống giám sát và cần có một số công cụ cần thiết như thuế, dự trữ chiến lược...để can thiệp khi cần thiết với một số mặt hàng nhạy cảm và có ý nghĩa chiến lược.

  

- Ông có thể nói rõ hơn về một số chính sách thể hiện sự lúng túng trong điều hành?

 

- Rõ nhất có thể thấy là việc điều chỉnh can thiệp vào giá bán xăng dầu vào tháng 5 năm nay của Bộ Thương mại (cũ). Rõ ràng là cần chuyển sang cho doanh nghiệp quyết định nhưng thời điểm không thích hợp.

 

Về mặt chính trị trong nước đang có bầu cử quốc hội, trong khi đó trên thế giới tình hình bất ổn chính trị tại Trung Đông đang căng thẳngvà có rất nhiều dự báo khác nhau về những cú sốc giá xăng dầu tiếp tục.

 

Việc cho doanh nghiệp tự quyết giá xăng khi các điều kiện đảm bảo như công cụ thị trường, giám sát, cấu trúc thị trường chưa hoàn thiện dẫn đến việc khi có những cú sốc giá cả, muốn áp dụng các biện pháp hành chính lại là rất khó. Việc này không những làm chậm hơn tiến trình tiến tới thị trường mà còn gây ra những tác động không tốt về mặt kiềm chế giá cả cũng như tác động xã hội.

  

- Có ý kiến cho rằng việc in tiền và đẩy tiền đồng mua ngoại tệ của Chính phủ là nguyên nhân gây lạm phát. Ông đánh giá như thế nào?

 

- Trong bối cảnh luồng tiền ngoại tệ vào nhiều sẽ gây ra khó xử đối với không chỉ Ngân hàng nhà nước Việt Nam mà còn với nhiều nước Đông Á.Có nước để tỷ giá linh hoạt hơn hoặc thả nổi thì tỷ giá bị đánh giá cao như vậy hạn chế rất nhiều xuất khẩu và tăng trưởng.

 

 "Việt Nam thì hơi tham vọng, vừa muốn có chính sách duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, lại vừa muốn chính sách tiền tệ đảm bảo cạnh tranh của tỷ giá để thúc đẩy xuất khẩu".

Ví dụ Thái Lan, Phillipines cảm nhận về tăng giá của đồng tiền ảnh hưởng đến xuất khẩu và tăng trưởng là rất rõ. Trong trường hợp Việt Nam mình lại muốn giữa tỷ giá tương đối cạnh tranh do vậy phải mua tiền vào. Như vậy cũng có cái tốt vì có dự trữ ngoại tệ cao, nhưng mua tiền vào thì lượng cung ứng tiền tệ nó sẽ đẩy, tiền nhiều thì cân đối cung cầu sẽ thay đổi gây áp lực lạm phát.

 

Giải quyết vấn đề này thì có 2 điều như tôi đã nói ở trên là hút tiền về bằng thị trường mở là bán tín phiếu hoặc tăng dự trữ bắt buộc. Tổn phí cao vì thực chất tăng dự trữ bắt buộc làthuế đánh vào ngân hàng thương mại, còn bán tín phiếu thì phải có lãi suất hấp dẫn, lãi suất tăng cao cũng là yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng.

 

Ngoài ra, làm cách nào để dùng ngoại tệ hiệu quả nhất cũng thì chi phí cơ hội đó cũng khá cao.

Chính sách hút ngoại tệ được nhiều nước khuyến cáo không thể kéo dài mãi được.

 

Theo tôi, trong trường hợp trước mắt thì Việt Nam nên để tỷ giá tiền đồng có độ linh hoạt hơn. Để giảm can thiệp quá mức về chính sách tiền tệ, có thể mua tiền vào nhưng phải tăng cường được hiệu lực của công cụ tiền tệ, thị trường tiền tệ và vai trò độc lập hơn của Ngân hàng Trung ương trong quyết định những chính sách của mình.

 

Như vậy vẫn đảm bảo được trong trường hợp nhất định khả năng cạnh tranh của tỷ giá đồng , đồng thời giảm tổn phí trung hoà hoá tiền tệ.

 

- So sánh một nước khác, mục tiêu Việt Nam là gì?


- Rõ ràng trong một chừng mực nhất định, có thể đánh giá các nước khác họ tập trung nhiều hơn vào ổn định kinh tế vĩ mô. Việt Nam thì hơi tham vọng, vừa muốn có chính sách duy trì ổn định kinh tế vĩ mô lại vừa muốn chính sách tiền tệ đảm bảo cạnh tranh của tỷ giá để thúc đẩy xuất khẩu.

 

- Xin cám ơn ông!

Cùng chuyên mục