Mặc dù thị trường thế giới có nhiều biến động nhưng chỉ tiêu xuất khẩu của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh vẫn hoàn thành vượt mức kế hoạch đặt ra. Theo ước tính của Sở Thương mại, năm 2007 kim ngạch xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đạt gấp 1,3 tỷ USD, bằng 107,5% kế hoạch năm.
Trong đó: Hàng hoá thực xuất của các doanh nghiệp địa phương trên 190 triệu USD; xuất khẩu của các doanh nghiệp Trung ương đóng trên địa bàn gần 933 triệu USD; xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) gần 154 triệu USD và các khoản thu phí kho ngoại quan, chế xuất đạt 10,799 triệu USD. Bên cạnh hoạt động xuất khẩu, hoạt động tạm nhập tái xuất trên địa bàn tỉnh đã có nhiều thuận lợi và phát triển tốt. Hiện nay có 6 mặt hàng cấm nhập khẩu, tạm ngừng nhập khẩu đã được Bộ Công Thương cấp phép và UBND tỉnh đồng ý cho tái xuất qua 3 cửa khẩu: Móng Cái, Bắc Phong Sinh và Hoành Mô là xe đạp; ô tô; hàng điện tử, săm lốp ô tô, quần áo đã qua sử dụng; phế liệu. Đến thời điểm này có 64 doanh nghiệp (trong đó có 38 DN trong tỉnh và 26 DN tỉnh ngoài) tham gia hoạt động tạm nhập tái xuất một số mặt hàng cấm nhập khẩu, tạm ngừng nhập khẩu qua khu kinh tế cửa khẩu. Chỉ tính riêng giá trị hàng hoá tạm nhập tái xuất qua cửa khẩu của 38 doanh nghiệp trong tỉnh đã đạt 810 triệu USD và nộp vào ngân sách Nhà nước trên 10 triệu USD.
Nhìn vào kết quả xuất khẩu hàng hoá năm nay cho thấy, mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của các doanh nghiệp vẫn là cao su, hải sản, dầu thực vật, than đá, vật liệu xây dựng... Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ đạt cao phần lớn là do sự tăng giá của một số mặt hàng trên thị trường thế giới, còn hầu hết các mặt hàng xuất khẩu chủ lực đều bị tụt giảm về số lượng. Cụ thể: số lượng cao su xuất khẩu năm 2007 là 24.649 tấn, đạt 37,9% kế hoạch, bằng 45,8% so với cùng kỳ năm ngoái; xuất khẩu hải sản các loại gần 2.438 tấn, đạt 80,22% kế hoạch, bằng 57,9% so với cùng kỳ... Riêng dầu thực vật có sự tăng trưởng vượt bậc về số lượng xuất khẩu, cả năm ước đạt 27.151 tấn, bằng 226% kế hoạch năm, tăng 83,4% so với cùng kỳ. Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến việc sụt giảm số lượng hàng hoá xuất khẩu của tỉnh chính là do các doanh nghiệp xuất khẩu chưa thích ứng nhanh, thiếu thông tin về thay đổi chính sách, về nhu cầu của các thị trường truyền thống. Đơn cử như tại thị trường Trung Quốc, nhiều doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu không theo kịp sự thay đổi về các thủ tục liên quan đến kinh doanh trên thị trường nước bạn nên hoạt động kinh doanh thường bị động. Sau khi gia nhập WTO, Trung Quốc đã bãi bỏ ưu đãi 50% VAT đối với hàng hoá nhập khẩu qua đường Quảng Tây và siết chặt hơn các quy định về kiểm dịch, kiểm nghiệm đối với hàng hoá nhập khẩu theo các chuẩn mực của WTO. Trong buôn bán với Trung Quốc, các doanh nghiệp vẫn còn bị động, chạy theo lợi ích ngắn hạn; sự hợp tác, liên kết của các doanh nghiệp xuất khẩu với các địa phương, vùng biên giới còn nhiều hạn chế. Hiện nay doanh nghiệp xuất khẩu vẫn hoàn toàn phụ thuộc vào đầu mối của Trung Quốc và dễ dàng bị đối tác gây sức ép, nhất là đối với các chủng loại hàng hoá mang tính thời vụ như rau quả, hải sản tươi sống...
Trao đổi với chúng tôi, đồng chí Nguyễn Văn Thìn, Giám đốc Sở Thương mại cho rằng: Việc nước ta gia nhập WTO đã mở ra cơ hội lớn cho hoạt động xuất khẩu hàng hoá của các doanh nghiệp. Theo cam kết, một số mặt hàng được bãi bỏ hạn ngạch, cắt giảm thuế mạnh từ 60%, 40% xuống còn 20% và một số mặt hàng có thuế suất bằng 0%. Một thực tế là các doanh nghiệp nước ngoài tận dụng rất tốt các cơ hội này còn doanh nghiệp QN chưa tận dụng được cơ hội trong cắt giảm thuế quan và phi thuế quan để xuất khẩu các mặt hàng lợi thế. Trong khi đó chúng ta lại vấp phải các hàng rào phi thuế quan như các tiêu chuẩn về chất lượng hàng hoá, vệ sinh an toàn thực phẩm theo các chuẩn mực quốc tế dẫn đến tình trạng sụt giảm về số lượng hàng hoá xuất khẩu đặc biệt là nông sản và hải sản tươi sống.
Trong hội thảo quốc tế về xúc tiến thương mại-du lịch và đầu tư Việt –Trung tại Móng Cái vào tháng 11 vừa qua, một số chuyên gia kinh tế đã nhận định: Hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và Quảng Ninh nói riêng vẫn diễn ra manh mún, nhỏ lẻ, hoàn toàn bị động và phụ thuộc vào các đầu mối nhập khẩu Trung Quốc trong khi các nước trong khu vực như Thái Lan, Singapo... đã xâm nhập được vào các kênh bán buôn, các siêu thị trong thị trường nội địa, các thành phố lớn của Trung Quốc. Nếu khắc phục được những điểm yếu này và làm tốt hơn nữa công tác nghiên cứu dự báo, phân tích thị trường và xúc tiến thương mại thì xuất khẩu của Quảng Ninh vào thị trường Trung Quốc nói riêng và thị trường thế giới nói chung mới bền vững.