Quyết định cho phép một doanh nghiệp đầu tư thực hiện dự án nuôi trồng thuỷ sản tại xã Hải Tiến (TP Móng Cái) là một chủ trương hoàn toàn đúng đắn của tỉnh.
Tuy nhiên, trước và sau khi có Quyết định phê duyệt, do sự tắc trách của các cơ quan tham mưu TP Móng Cái cũng như xã Hải Tiến, dự án đã trở thành tâm điểm của dư luận. Điều “kỳ cục” ở đây là dự án được phê duyệt cho Công ty CP Xây dựng Hoàng Việt (Công ty Hoàng Việt) thực hiện từ năm 2007, thế nhưng đến năm 2011, khi doanh nghiệp khác nhảy vào... thi công, bà con ở thôn 1 mới ngã ngửa! Bãi triều ven biển nuôi sống 90% các hộ dân từ bao đời qua sắp về tay tư nhân mà họ chẳng nhận được một lời nào gọi là “lấy ý kiến nhân dân”. Bức xúc, các hộ đến UBND xã Hải Tiến để hỏi, thì người nắm rõ tình hình nhất là vị phó chủ tịch xã phụ trách nông nghiệp, lắc đầu nguầy nguậy!
Hầu hết người dân xã Hải Tiến hiện sinh sống dựa vào khai thác nguồn lợi bãi triều này.
Xã mập mờ
Chúng tôi đến UBND xã Hải Tiến trong sáng thứ bảy (4-6) để liên hệ làm việc về vấn đề trên. Tại trụ sở xã chỉ có một cán bộ tên Duân tranh thủ đến làm báo cáo. Nhờ cán bộ này liên hệ với Phó Chủ tịch xã Phạm Ngọc Tùng, phụ trách nông nghiệp, thì được biết ông Tùng đang bận và “phải có ý kiến của thành phố mới trả lời nhà báo”. Liên hệ với bà Đoàn Thị Duyên, Chủ tịch UBND xã, chúng tôi mới hay rằng, sáng 4-6 là đúng lịch trực tiếp dân “một cửa” của vị phó chủ tịch này. Sáng 6-6, để… chắc ăn, chúng tôi tìm gặp cả Chủ tịch Đoàn Thị Duyên và Bí thư Đảng uỷ Nguyễn Thế Căn để xin được tạo điều kiện làm việc với ông Phạm Ngọc Tùng. Thật may, ông Tùng không từ chối.
Ngày 19-3-2007, UBND tỉnh có Quyết định số 871/QĐ-UBND về việc phê duyệt quy hoạch bố trí tổng mặt bằng dự án nuôi trồng thuỷ sản tại xã Hải Tiến (Móng Cái) của Công ty Hoàng Việt với tổng diện tích là 50ha, gồm 32ha diện tích ao nuôi, 6ha hồ chứa nước mặn, 3ha hồ chứa nước ngọt, 5ha hồ xử lý nước thải, số diện tích còn lại gồm các công trình phụ trợ khác. Ngày 24-6-2007, Công ty Hoàng Việt cùng lúc gửi 3 công văn đến các cơ quan chức năng về việc tham gia ý kiến đánh giá tác động môi trường của dự án này. Một trong số văn bản này được UBND xã Hải Tiến tiếp nhận ngày 16-7-2007. Ngay lập tức, UBND xã Hải Tiến có công văn trả lời, đề cùng ngày 16-7-2007, do Chủ tịch UBND xã Vi Xuân Sinh ký. Nội dung là “cơ bản nhất trí với các biện pháp bảo vệ môi trường được nêu trong báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án”. Nhưng kỳ lạ, công văn mà Công ty Hoàng Việt gửi trước đó mới chỉ nêu là “đang triển khai lập báo cáo”, vậy thì những cán bộ xã Hải Tiến thời điểm đó lấy cái gì mà “nhất trí với các biện pháp” của Công ty Hoàng Việt(!?). Đáng chú ý, vẫn trong năm 2007, có một công văn của Công ty Hoàng Việt không ghi ngày tháng về việc xin thông tin từ UBND xã Hải Tiến cho báo cáo đánh giá tác động môi trường. Công văn không số, không ngày, không có dấu nơi gửi, nhưng lại có chữ ký và dấu nơi nhận (của Chủ tịch UBND xã Vi Xuân Sinh). Còn chữ viết trong công văn lại là của ông Phạm Ngọc Tùng, khi đó là cán bộ địa chính. Quá kỳ lạ! Công văn này ai soạn, nhằm mục đích gì? Đến giờ, bản thân ông Tùng cũng thừa nhận chữ viết của mình trong công văn, tuy nhiên, chỉ coi đó là việc bình thường.
Như vậy, có thể khẳng định, ông Phạm Ngọc Tùng, Phó Chủ tịch UBND nắm rất rõ về việc giao đất cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, sau 3 năm, người dân xã Hải Tiến chưa bao giờ được chính quyền thông báo lấy ý kiến. Ông Tùng còn khẳng định, ngoài công văn “không số” về tham gia ý kiến đánh giá tác động môi trường kia, ông không biết gì thêm cho đến thời điểm đầu năm 2011 khi có biên bản làm việc xác định việc thực hiện công tác đền bù giải phóng mặt bằng tại thôn 1, xã Hải Tiến.
Dư luận sẽ “thông cảm” cho cái sự không biết của ông với tư cách là cán bộ địa chính rồi phó chủ tịch xã phụ trách nông nghiệp”?
Thêm một điều “kỳ cục” nữa. Tháng 6-2008, UBND tỉnh có Quyết định 1810/QĐ-UBND về việc cho Công ty Hoàng Việt thuê đất nuôi trồng thuỷ sản tại thôn 7 xã Hải Tiến. Tháng 12-2010, UBND tỉnh thu hồi Quyết định 1810 trên với lý do “đơn vị không còn nhu cầu sử dụng”, đồng thời ra Quyết định 4018 về việc giao đất ở thôn 7 cho Doanh nghiệp tư nhân - Xí nghiệp Tư doanh chế biến thuỷ sản Cam Ranh hoàn thiện hồ sơ thuê đất để thực hiện dự án nuôi trồng thuỷ sản. Ở đây nổi lên một vấn đề, các văn bản của UBND tỉnh đều ghi là “thôn 7, xã Hải Tiến”, tuy nhiên, khi thực hiện lại là ở thôn 1. Giải thích về điều này, Phó Chủ tịch xã Hải Tiến Phạm Ngọc Tùng cho rằng, “ở trên tỉnh họ đánh nhầm, chứ thôn 7 làm gì có vị trí nào như thế”. Tuy nhiên, khi phóng viên hỏi “nếu cho rằng tỉnh nhầm, tại sao qua một thời gian dài như vậy không có báo cáo lên tỉnh về sự nhầm lẫn này?”, ông Tùng không thể trả lời một cách đầy đủ. Liệu có sự nhầm lẫn ở đây, hay “cố ý làm trái” chỉ đạo của UBND tỉnh?
| * Sau khi người dân thôn 1 gửi đơn kiến nghị về việc Nhà máy Chế biến xuất khẩu thuỷ sản Quảng Ninh đưa máy xúc vào bãi triều thi công, ngày 5-5-2011, UBND TP Móng Cái đã ra Thông báo 229 về việc dừng thi công dự án này với các lý do: Đến thời điểm 5-5, hồ sơ dự án chưa đầy đủ, chưa được giao đất tại thực địa. TP Móng Cái đã yêu cầu đơn vị này di chuyển toàn bộ máy móc, thiết bị ra khỏi địa bàn xã Hải Tiến, đồng thời yêu cầu UBND xã kiểm tra, giám sát, quản lý đất đai và bãi triều đúng quy định pháp luật. * Bà Đoàn Thị Duyên, Chủ tịch UBND xã Hải Tiến: Về việc thẩm tra hồ sơ đất đai của dự án này tại thôn 1 vào ngày 5-1-2011, đồng chí Tùng (Phó Chủ tịch Phạm Ngọc Tùng) có đi cùng đại diện các ban, ngành như Tài nguyên - Môi trường và Phòng Kế hoạch - Tài chính của TP Móng Cái, tuy nhiên, về không báo cáo gì cả, ngay cả đồng chí Bí thư cũng không nắm được. Đến ngày 12-1, dân hỏi thì đồng chí Tùng lại kêu không biết (!). |
Khu vực bãi triều thuộc xã Hải Tiến (Móng Cái)
Doanh nghiệp cười, dân khóc
Công ty Hoàng Việt là đơn vị đầu tiên được đồng ý chủ trương thực hiện dự án nuôi trồng thuỷ sản tại xã Hải Tiến. Từ năm 2007 đến cuối 2010, công ty này chưa triển khai một công việc gì tại vị trí bãi triều thôn 1. Sau đó, UBND tỉnh giao Doanh nghiệp tư nhân - Xí nghiệp Tư doanh chế biến thuỷ sản Cam Ranh (sau đây gọi tắt là Công ty Cam Ranh) hoàn thiện hồ sơ thuê đất để thực hiện dự án nuôi trồng thuỷ sản tại đây. Xen kẽ những quyết định này là hợp đồng chuyển nhượng “hồ sơ dự án nuôi trồng thuỷ sản tại thôn 1, xã Hải Tiến” giữa Công ty Hoàng Việt và Công ty Cam Ranh. Được biết, trị giá hợp đồng này là 600 triệu đồng. Việc làm kiểu “bán cái” này có hợp pháp hay không, xin chờ các cơ quan chức năng trả lời, bởi theo ông Phạm Ngọc Tùng, chưa đơn vị nào có quyết định cho thuê đất của UBND tỉnh, chưa được cơ quan có thẩm quyền giao đất tại thực địa.
Theo chủ trương, chính sách ưu đãi, khuyến khích đối với các nhà đầu tư thực hiện đầu tư các vùng sâu, vùng xa, hải đảo trên địa bàn tỉnh, tổng diện tích 446.329,5m2 đất bãi triều ở thôn 1, xã Hải Tiến được quy định giá thuê cho Nhà máy Chế biến xuất khẩu thuỷ sản Quảng Ninh (Chi nhánh Công ty Cam Ranh) gần 4 triệu đồng/năm.
Vậy, nhưng nỗi lo của hàng trăm hộ dân các thôn 1, thôn 2 là vô cùng lớn. Họ lo ngại cái nghề truyền thống bao đời của mình mai một đi, lo ngại thuốc tẩy ao hồ sẽ tàn phá môi trường đến độ nguồn thuỷ hải sản nuôi sống họ lâu nay sẽ bị cạn kiệt. Phó Chủ tịch xã Phạm Ngọc Tùng thì khẳng định rằng, “dự án này không ảnh hưởng lớn đến đời sống của nhân dân”. Thế nhưng, khi trao đổi với phóng viên, hầu hết bà con ở thôn 1 đều tỏ ra rất bức xúc. Ông Nguyễn Văn Thái, thôn trưởng thôn 1 cho biết: 90% các hộ dân ở đây sống bằng nghề đánh bắt hải sản ven bãi triều. Đây là khu vực cực kỳ quan trọng với cuộc sống của bà con. Tất cả đều rất bức xúc trước việc các cán bộ xã Hải Tiến trước đây làm ngơ với quyền lợi của nhân dân. Theo ông Thái, dân thôn 1, thôn 2 chẳng biết gì về dự án nuôi trồng thuỷ sản này cả cho đến khi thấy người đến khảo sát, kiểm tra, rồi mang máy móc đến chuẩn bị thi công.
Giữa trưa nắng tháng 6, chúng tôi ra bãi triều, chứng kiến nhiều người dân thôn 1 đang cuốc giun biển, cào vạng, đánh hà, bắt sò, ngó… Một thanh niên nhất quyết không nói tên khi biết chúng tôi là nhà báo, cho biết, mỗi ngày cũng kiếm được 100-200 nghìn đồng. Trẻ con thì “nhặt” được vài chục nghìn nếu chịu khó. Anh ta bảo: “Chúng tôi có biết làm gì đâu, bao đời sống nhờ bãi triều này, nếu định cho ai thuê để kinh doanh, cũng phải hỏi chúng tôi một câu chứ! Các ông ấy làm ăn không cẩn thận, mai này chả còn con sò, con ốc nào mà bán cho các quán nhậu đâu”. Ánh mắt nhăn nhó, khuôn mặt đen sạm giữa nắng trưa, người thanh niên chỉ nói vậy rồi chán nản chẳng thèm trả lời khi chúng tôi cảm ơn và chào tạm biệt.