Kỷ niệm những ngày đầu

Đã ở cái tuổi “xưa nay hiếm” nhưng những nhà báo lão thành của Quảng Ninh vẫn không quên những ngày đầu cầm bút của mình.

Những ký ức đó sâu sắc hơn, da diết hơn, khi mà họ phải sống, tác nghiệp trong điều kiện vô cùng khó khăn của thời chiến. Tuy nhiên, chính những khó khăn, khắc nghiệt ấy đã giúp họ trưởng thành, tạo nền móng vững trãi cho báo chí Quảng Ninh sau này.

Điều tâm đắc của nhà báo Nguyễn Huy Trợ

Đối với ông Nguyễn Huy Trợ, nguyên Tổng Biên tập Báo Quảng Ninh, hơn 30 năm làm báo, nghề báo dường như đã gắn bó máu thịt với ông. Trong câu chuyện ông kể với chúng tôi, hình ảnh nghề báo cũng như truyền thống của Báo Quảng Ninh hiện ra đầy vất vả, gian nan song cũng hết sức tự hào. Ông kể: Ngay trong thời chiến, vùng mỏ Hòn Gai được coi là vùng đất bị huỷ diệt, bom đạn cày nát những công trường, xí nghiệp, thế nhưng Báo Quảng Ninh vẫn ra liên tục không nghỉ số nào. Những tin bài ở vùng sâu xa hay vùng chiến sự đều được phản ánh kịp thời, nhanh nhạy. Đặc biệt bộ phận ảnh kẽm của Báo luôn vượt khó để cho ra đời những bức ảnh đẹp, minh hoạ sinh động cùng tin bài khiến cho độc giả rất háo hức đón đọc. Ảnh kẽm của Báo Quảng Ninh không chỉ phục vụ cho báo mình mà còn hỗ trợ ảnh cho một số báo tỉnh thành bạn và báo Hải Quân... Có thể nói sự vượt khó để đem lại cho bạn đọc những thông tin chính xác, kịp thời nhất, những hình ảnh tiêu biểu, đắt giá nhất đã trở thành truyền thống của Báo Quảng Ninh.

Điều đó lý giải vì sao trong suốt thời kỳ dài Báo Quảng Ninh luôn được đánh giá là tờ báo đạt chất lượng tốt. Tuy nhiên, khi hoà bình lập lại, thời kỳ đầu những năm 1973, do tâm lý ngủ vùi trong chiến thắng của cả người làm báo lẫn người đọc, đồng thời cũng ít có những sự kiện mang tính cấp bách cháy nhà chết người như thời chiến nên bài vở của Báo Quảng Ninh có phần tản mạn. Hiệu ứng từ những thông tin Báo đưa ra như "đá ném ao bèo" không để lại được dấu ấn như mong muốn. Tờ Báo Quảng Ninh có nguy cơ trở nên công vụ, ít bạn đọc. Không thể để tình trạng này diễn ra, Ban Biên tập cùng cán bộ, phóng viên Báo đã nghiêm túc ngồi lại kiểm điểm và bàn bạc phương hướng tăng tính hấp dẫn, sức sống cho tờ báo. Cuối cùng phương án tuyên truyền dài hơi, tạo thành những vệt bài về các vấn đề nóng hổi của cuộc sống cũng như sản xuất được chấp nhận. Loạt bài đầu tiên là về sự kiện Đèo Nai. Khi đó Xí nghiệp Than Đèo Nai là điển hình tiêu biểu trong chuyển đổi cơ chế hoạt động. Từ khâu tổ chức sản xuất đến tác phong làm việc, chăm lo đời sống tinh thần cho anh em công nhân, hiệu quả lao động... đều có những cách làm hay, sáng tạo. Hàng chục số báo liên tục với hàng tít lớn "Sự kiện Đèo Nai" đã bắt đầu thu hút được độc giả. Tiếp sau đó hàng loạt các vệt bài khác về ấn tượng Mạo Khê, tổ xe Lê Khắc Vừng, những HTX làm ăn giỏi, vụ tiêu cực ở Xí nghiệp Than Hà Tu... đã để lại ấn tượng sâu sắc, tác động mạnh mẽ đến các cấp lãnh đạo và nhân dân, tạo nên hiệu ứng rộng khắp. Đặc biệt vụ việc cán bộ Xí nghiệp Than Hà Tu trù dập công nhân được báo nêu ra và phản ánh sâu, trúng, đúng đã làm nức lòng các thế hệ thợ lò lúc bấy giờ, đến nỗi phóng viên Báo Quảng Ninh đi đến công trường, khai trường than nào cũng được nghe bình luận về bài báo với thái độ yêu quý, tin tưởng. Đó là phần thưởng, niềm tự hào vô cùng lớn lao.

Qua câu chuyện của nguyên Tổng Biên tập Nguyễn Huy Trợ, cho thấy Báo Quảng Ninh đã không ngừng vượt qua những khó khăn để nâng cao chất lượng, phục vụ bạn đọc. Điều này đã trở thành truyền thống đáng quý mà các thế hệ làm báo hôm nay luôn phải trân trọng và tiếp nối phát huy một cách tốt nhất.

Nhà báo Công Vượng và một lần chụp ảnh Thủ tướng

Nhà báo Công Vượng là một trong những phóng viên đầu tiên của Báo Vùng Mỏ. Cả đời làm báo, ông vinh dự được chụp khá nhiều ảnh các lãnh tụ Đảng, Nhà nước. Năm nay ông đã 77 tuổi, tuổi này không còn cho phép ông hăng say với hoạt động làm báo như vài năm trước. Nhưng mỗi khi ngồi trò chuyện về nghiệp vụ, thì dường như hồi ức một thời làm báo lại trỗi dậy trong ông. Ông bảo, làm báo thời chiến tranh gian truân lắm, phương tiện tác nghiệp thật thiếu thốn. Những năm 1955-1956… cả Tòa báo Vùng Mỏ chỉ vỏn vẹn 2 chiếc xe đạp và 1 chiếc máy ảnh cũ của Sở Than để lại. Anh em phóng viên tác nghiệp có khi đi bộ đến hàng chục cây số. Báo ngày đó phát hành 1 tuần/số, khổ 3A (2 trang), nội dung chủ yếu phản ánh tình hình sản xuất, đời sống công nhân mỏ…

Ông còn kể, vào những năm 1967-1968, ngành Than làm ăn sa sút, chưa hiệu quả. Trước tình hình đó, Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng về làm việc. Lúc đó ông được phân công theo đoàn chụp ảnh Thủ tướng để chuẩn bị cho số báo ra hôm sau. Ông nhớ mãi hôm đó tiết trời se se, trong buổi ngồi làm việc với ngành Than, Thủ tướng mặc chiếc áo sơ mi trắng bên trong, ngoài là chiếc đại cán với hàng cúc không cài; nét mặt Thủ tướng vẻ không vui. Trong tình huống đó ông cân nhắc mãi, cứ đưa máy ảnh lên, rồi lại hạ xuống ngay phía trước mặt Thủ tướng… Ông nghĩ, nếu chụp Thủ tướng lúc này, chắc chắn tác phẩm ảnh sẽ không "đạt". Thấy ông không chụp, lãnh đạo của ông lo. Để trấn an, ông chụp 1 kiểu duy nhất lúc đó rồi lại hạ máy xuống chờ trực điều kiện thích hợp chụp được tấm hình ưng ý... Và rồi sự lo lắng của ông dường như Thủ tướng đã biết, nên vừa nói chuyện, Thủ tướng vừa đưa tay cài hàng cúc áo. Với tư thế sẵn sàng, ông lập tức bấm máy liên tục. Buổi làm việc của Thủ tướng kết thúc. Ông trở về Tòa soạn rửa ảnh đem nộp, trong đó vừa có tấm ảnh Thủ tướng chưa và đã cài cúc áo... Và rồi tấm ảnh Thủ tướng đã cài cúc áo được duyệt ngay trên trang nhất khá đẹp...

Không chỉ kể về những ngày đầu làm báo, nhà báo Công Vượng còn kể cho tôi nghe rất nhiều kỷ niệm vui, buồn. Ông bảo, cái mà ông lo lắng nhất trong nghề làm báo là phản ánh thiếu chuẩn xác, bởi thế ông rất ít khi để xảy ra sai sót. Nhưng có lần ông đã sai, mặc dù lỗi không đến mức nghiêm trọng, nhưng ông vẫn nghiêm túc cho đó là bài học sâu sắc đối với ông. Chả là một lần ông biên tập bài báo của CTV, nội dung bài phản ánh tinh thần lao động, năng suất của công nhân mỏ. Trong bài có chi tiết nói đến chiếc xe "ma" trọng tải 40T (cấu tạo 6 lốp), nhưng ông đã nhớ nhầm sang loại xe khác, nên lập tức biên tập xe "ma" từ 6 lốp thành 10 lốp. Ngay hôm sau báo ra, ông nhận được khá nhiều ý kiến phản hồi... Bẵng ít lâu sau, trong lần đi tác nghiệp, thấy ông từ xa, nhà báo Võ Khắc Nghiêm với nét mặt tươi cười, giơ tay chào rất to: A! Chào ông "10 lốp". Mặc dù ông biết câu nói đó không "ác ý", nhưng trong ông vẫn không sao quên được bài học đó!...   

Nỗi buồn của nhà báo trong chiến tranh

Khác với nhà báo Công Vượng, nhà báo Đỗ Kha từ một CTV làm tại Mỏ than Hà Tu chuyển sang làm báo chuyên nghiệp từ năm 1963. Ngay từ những ngày đầu vào Báo Quảng Ninh, chàng trai trẻ mới 27 tuổi đã thể hiện tư chất của một phóng viên năng động, xông xáo và được phân công theo dõi, viết về mảng "Văn hóa - xã hội". Ông bảo, ngày đó máy ảnh là thứ tài sản cực kỳ quý, bởi vậy chỉ có phóng viên được phân công chụp ảnh thì mới được dùng máy...

Nhà báo Đỗ Kha cho biết, khi ông trở thành phóng viên thực thụ chưa bao lâu thì Mỹ bắn phá miền Bắc. Sau trận chiến 5-8-1964 là trận chiến đấu 22-12 cùng năm. Ông kể, một lần trong lúc toàn cơ quan đang họp phổ biến tình hình, nhiều dự đoán khả năng máy bay Mỹ sẽ đánh vào cơ sở trọng điểm là Nhà máy điện Uông Bí và cảng than Cửa Ông... lập tức ông đề xuất thủ trưởng được tác nghiệp vùng Uông Bí, và rồi lời đề nghị của ông được chấp nhận. Ông tức tốc đạp xe từ Hòn Gai đi Uông Bí, sang đầu phà bên kia, ông nhận được thông tin Uông Bí bắn rơi báy may Mỹ. Đến nơi, ông tận mắt thấy xác máy bay vẫn đang bốc khói, cùng xác 2 tên phi công chết cháy tại thôn Đá Cổng. Ông phán đoán chắc chắn máy bay Mỹ sẽ quay trở lại, nên phải chờ đợi. Quả đúng vậy, ngay sau 1 vài tiếng, máy bay Mỹ rít "xé" bầu trời, ầm ầm quay trở lại, từng tốp máy bay lao từ phía Vàng Danh ném bom Nhà máy điện Uông Bí, rồi lao ra sông Bạch Đằng. Lúc này bên kia sông Uông bộ đội ta đón lõng, bắn chéo máy bay Mỹ, đạn trắng xóa bầu trời, 1 chiếc máy bay Mỹ bốc cháy... Tiếng kẻng báo động dồn dập vang lên không ngớt. Nhiều người lao nhanh xuống hầm trú ẩn, ông cũng chạy theo... Nhưng rồi ông thoáng nghĩ, ông cũng là chiến sĩ - "chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng cơ mà!...". Ông lập tức ngoi ra khỏi cửa hầm để tận mắt chứng kiến cảnh tượng Nhà máy điện bị phá hủy khói bụi mù mịt, nhà cửa bị tàn phá, sự chết chóc, kêu cứu của những ông bố, bà mẹ ôm con cầu cứu... Ông "nuốt" nỗi đau xót vào lòng. Ông bảo, cả đời làm báo cho đến tận bây giờ, ông ân hận nhất là không có được chiếc máy ảnh ghi lại tội ác chiến tranh Mỹ ngày đó...

Cùng chuyên mục