Ông Nguyễn Đăng San, thương binh 3/4, trú tại phường Giếng Đáy (TP Hạ Long) là người trực tiếp tham gia chiến đấu ở chiến trường miền Nam.
Tìm gặp ông những ngày tháng Tư lịch sử này, được nghe ông kể về ký ức thời binh lửa khiến chúng tôi, thế hệ hậu sinh phần nào hiểu thêm sự khốc liệt của chiến tranh; từ đó càng trân trọng hơn những hy sinh của thế hệ các ông cho đất nước được thống nhất.
Sinh ra và lớn lên tại huyện Kim Thành (Hải Dương), tháng 4-1970, khi đang học năm cuối cấp ba, chàng thanh niên Nguyễn Đăng San, khi ấy chưa đầy 18 tuổi đã xung phong lên đường đánh giặc. Được biên chế vào D2, E629, F2, Quân khu Tả Ngạn, sau mấy tháng huấn luyện, anh cùng đồng đội lên đường vào chiến trường miền Nam. Vào đây, anh được biên chế vào Trung đoàn bộ binh 1-F2, Quân khu 5 (Đoàn Ba Gia - Vạn Tường) - đơn vị đã 3 lần được Nhà nước phong tặng Anh hùng LLVTND. Tham gia chiến đấu tại đường 9 Nam Lào, trực tiếp cùng anh em trong đơn vị chiến đấu ngăn chặn cuộc hành quân - Lam Sơn 719 của địch; trận tập kích bãi xe tăng địch ở cao điểm trên Cao Nguyên Bôlôven - Nam Lào... giành được nhiều chiến công vang dội. Song có một trận đánh đã để lại ấn tượng sâu sắc nhất đối với người lính Nguyễn Đăng San. Ông kể: Dịp đầu tháng 6-1971, đơn vị tham gia đánh địch trên quốc lộ 13, khu vực giáp cầu Pắk Kụt, đánh chiếm xong, đơn vị giao cho đại đội tôi chốt giữ vị trí quan trọng này. Cấp trên chỉ đạo phải đánh để kéo địch từ các nơi vào vị trí Pắk Kụt. Điểm cao Pắk Kụt là một ngọn đồi nằm cạnh quốc lộ 13 có cầu và sông suối bắc qua; một vị trí án ngữ hết sức quan trọng với cả hai phía. Đơn vị chúng tôi đã chiến đấu bảo vệ và thu hút địch vào cao điểm, tạo thuận lợi cho trung đoàn đánh thắng địch ở khu vực Y Tu-Bản Nhik. Nhận nhiệm vụ tiểu đoàn giao, chúng tôi lên Pắk Kụt đào hầm chiến đấu. Vừa đào xong thì cao điểm bị máy bay, pháo kích địch bắn phá dữ dội. Chốt giữ trở thành nơi mưa bom, bão đạn của kẻ thù. Song quân địch đã bị đơn vị tôi đánh thiệt hại rất lớn. 3 ngày liên tục, đơn vị tôi đã tiêu diệt được 3 đại đội lính Com Măng Đô của ngụy Lào, quân Thái Lan. Cao điểm luôn được giữ vững. Tuy vậy, phía ta thương vong cũng nhiều. 9-6-1971, sáng sớm quân địch đánh phá vào cao điểm. Sau mấy giờ liên tục bị máy bay pháo kích đánh phá dữ dội và bị lính bộ binh địch bao vây chặn đường tiếp viện của ta, nhiều đồng chí bị thương và hy sinh. Lúc này trên chốt còn lại 4 tay súng là tôi; Tô Ngọc Lâm, tiểu đội trưởng; Vũ Minh Quỳnh và Phạm Minh Tiến. Pháo cối, rồi đại liên, tiểu liên bắn như vãi đạn vào cao điểm, lính bộ binh địch hò hét xông lên đánh chiếm. Địch quá đông, việc giữ cao điểm trở nên mỏng manh, bởi ta chỉ còn 4 anh em và cơ số đạn không còn nhiều... Gần một tuần nay, anh em không có gạo nấu cơm, toàn ăn cháo loãng nấu lẫn lá sắn, rau tàu bay. Nhưng chúng tôi xác định bằng mọi giá phải giữ được chốt quan trọng này. Tiểu đội trưởng Lâm chỉ thị: Cơ số đạn không đủ chiến đấu với lũ giặc, phải tiết kiệm đạn, đợi địch đến gần và nhằm thật chính xác địch mới được nổ súng, tiêu diệt... Sau 30 phút nã đạn cấp tập vào chốt, địch huy động bộ binh tiến lên. Ngay lập tức anh Lâm hô lớn “xung phong”, nhằm thẳng vào những tên chỉ huy đi đầu “bắn”. Tất cả 4 anh em bật khỏi hào, đồng loạt nổ súng. Xác giặc ngổn ngang ngay mép chiến hào. Tranh thủ cơ hội, anh em thu lượm được một số vũ khí địch bổ sung cho việc đánh giữ chốt. Địch tiếp tục nã pháo cối và cho mấy chục lính bộ binh tiến lên nhằm bắt sống chúng tôi. Trên cao điểm vô cùng căng thẳng, đơn vị cho người đến tiếp viện, nhưng địch vây chặt, không sao vào được. Mỗi anh em lúc này chỉ còn một hai quả lựu đạn, súng AK gần như hết đạn... Anh Lâm chỉ đạo: Mỗi người quan sát, bảo vệ chắc một hướng, chỉ bắn và ném lựu đạn khi nào thật cần thiết. Tuyệt đối không để địch phát hiện chốt còn ít người. Khi bắn AK, phải kết hợp súng thu được của chúng để địch tưởng quân ta còn mạnh... Đợi địch đến cách chốt khoảng 25 mét, chúng tôi xả những viên đạn cuối cùng. Khói lửa trên cao điểm mù mịt, địch hoảng loạn hô hét “còn rất nhiều Vici...vici... rút ngay - rút ngay”. Tiếng súng giảm dần, chốt chiến hào biến dạng, anh em bò đến tìm nhau. Khi đến chỗ anh Lâm, thấy anh ngã vật xuống hào, một tay ôm chiếc mũ ở bụng, tôi vội lao đến mới biết anh bị thương rất nặng ở bụng. Ruột trong bụng anh xổ ra trong chiếc mũ mà anh đang cố ấn vào để không cho đồng đội biết. Máu từ bụng anh đổ ra đen đông đặc dưới chiến hào nơi anh đứng chiến đấu. Anh nói với chúng tôi trong hơi thở đứt quãng “Hãy chiến đấu giữ chốt, trả thù cho anh và đồng đội hy sinh...”. Anh vẫy tay, ra hiệu cho tôi ghé sát xuống người anh, rồi nói “Kết thúc chiến tranh, nhớ tìm về quê tôi ở Thái Bình, kể lại trận đánh của đơn vị và việc tôi hy sinh để gia đình, quê hương biết về cuộc chiến đấu giữ chốt ác liệt hôm nay...” và anh mỉm cười, nhìn chúng tôi đầy tin tưởng, thanh thản nhắm mắt... Trời tối, đơn vị cho tăng cường lực lượng và củng cố trận địa. Mấy ngày sau, đơn vị đã đánh tiêu diệt cụm cứ điểm quan trọng của địch ở Y Tu-Bản Nhik, giữ vững mở rộng tuyến đường vận tải chiến lược của ta ở Hạ Lào. Những trận đánh khốc liệt, những chiến thắng và cả những hy sinh mất mát của các chiến sĩ, đồng đội của ông Nguyễn Đăng San trong trận đánh giữ điểm cao Pắk Kụt càng đưa quân và dân ta tiến gần hơn đến ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước 1975.