Trong cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, Quảng Ninh từng cử 2 đội văn công xung kích đi phục vụ chiến trường vào các năm 1968-1969 và 1971-1972...
Mới đây, tôi đã được gặp một số người từng có mặt trong chuyến đi đầu, thời điểm chiến tranh ác liệt nhất. 40 năm đã trôi qua, nay họ đều đã ở vào cái tuổi trên dưới 70, nhưng ký ức về những năm tháng ấy hình như vẫn vẹn nguyên trong họ...
Đội Văn công xung kích chụp ảnh lưu niệm tại Cục Hậu cần trước giờ xuất phát ra chiến trường, ngày 23-11-1968.
Ký ức không quên
Lê Thị Thanh Vân, cô ca sĩ bé nhỏ nhất trong đội cả về vóc dáng lẫn tuổi đời hồi ấy mới 19 tuổi. Là dược tá của Bệnh viện tỉnh, Thanh Vân tham gia Hội diễn nghệ thuật quần chúng toàn tỉnh năm 1968, cùng với giọng ca Quang Thọ, cô đã giành Huy chương Vàng. Hồi ấy, gia đình sơ tán trong Hà Tu, mẹ mất sớm, anh trai đi bộ đội đã hy sinh, chỉ còn bố và 3 em nhỏ rất cần bàn tay chăm sóc của người chị cả. Vậy nhưng tiếng gọi của tiền tuyến thôi thúc nên khi được tỉnh cử đi văn công xung kích, Thanh Vân đã gạt bỏ lại mọi thứ để ra đi... Đó chỉ là hoàn cảnh của 1 trong 16 thành viên đội văn công xung kích ngày ấy. Những người khác, chắc rằng khi lên đường phục vụ tiền tuyến, họ cũng đều để lại quê nhà những công việc chưa kịp làm, những trách nhiệm mà người ở lại phải gánh vác như thế!
Bà Trịnh Thúy Cầm nhớ lại: Ngày 23-11-1968, đoàn chúng tôi gồm 15 người (nam có Trọng Thịnh, Phan Long, Hà Vân, Hồ Tháp, Tô Lịch, Phạm Tuấn, Hồng Hải, Xuân Thuận, Đăng Ngang và Chí Tuất là đội trưởng, nữ có Thúy Cầm, Thanh Hảo, Phương Mai, Kim Thương, Thanh Vân) bắt đầu rời Tổng cục Hậu cần vào chiến trường. Trong số ấy chỉ có 4 người đã có gia đình riêng, có người vừa cưới xong đã đi như Phan Long. Sau đó, đoàn được bổ sung thêm anh Huy Ngọ là 16 người (vì anh biết tiếng Lào)...
Trong ký ức của bà Cầm, chuyến đi biểu diễn dọc đường 9 Nam Lào năm ấy vẫn còn vẹn nguyên, nguyên cả những gian lao vất vả, cả sự đau thương, khốc liệt của chiến tranh đối với con người. Bà kể: Vào đến Quảng Bình thì Thanh Vân đã bắt đầu ốm sốt rét rồi. Đôi chân cô ấy bị phồng rộp lên như cái bánh đa nướng nữa. Cô ấy trẻ nhất đoàn, chưa từng lao động nặng nên sức không chịu nổi. Thế là anh chị em lại thay phiên khiêng cáng và chia nhau đồ đạc của cô ấy...
Dẫu là văn công thì hành trang đi chiến trường của mỗi người cũng không khác một chiến sĩ giải phóng là mấy. Mỗi người đội trên đầu một mũ sắt, vai đeo ba lô đựng tư trang vật dụng nặng đến vài chục cân, chân đi dép cao su. Có khác chăng là họ còn quàng theo lỉnh kỉnh vật dụng phục vụ biểu diễn như cái nón, cái dần, cái sàng v.v... Văn công thời chiến nên mỗi ngày phải đi bộ vài chục cây số đường rừng bom đạn đủ cả. Có những bãi bom cứ một trận là 3 đợt, cách 15 phút lại bị bỏ bom một lần, họ cũng có một khoảng thời gian là 15 phút để chạy qua. Đội chia nhau ra, 3 người một tốp chạy, để cho nếu có hy sinh thì chỉ hy sinh 3 người thôi. Nhưng nguy hiểm hơn, không thể lường trước được chính là những trận bom tọa độ. Đi đến đâu là họ phải ngụy trang đến đó cho giống với màu của thiên nhiên quanh mình tránh bị máy bay địch phát hiện. Rồi có những con dốc, như dốc Nguyễn Chí Thanh, vượt qua phải mất cả ngày trời túm cây cỏ mà leo, mà vịn, Vào sâu hơn, những đợt nắng Lào khủng khiếp, những đàn ruồi vàng theo như đàn ong hay Bản Vắt, nơi không có người ở, rất nhiều vắt là thử thách khắc nghiệt với mỗi nghệ sĩ của đoàn.
Hà Vân kể tiếp: Đi dọc đường 9 Nam Lào theo đường dây 559 vào mặt trận Khe Sanh, qua A Sầu, A Lưới, qua các binh trạm 31, 32, 34, 41 v.v... chúng tôi đi qua những rừng cây rụng hết lá trơ trụi, những cây săng lẻ cổ thụ thân to đến 2-3 người ôm chết đứng vì bom B52 và chất độc hóa học. Gian khổ trong sinh hoạt không thể kể hết nhưng đau thương nhất là chúng tôi phải chứng kiến những hy sinh xương máu của chiến sĩ mình. Có những đoàn xe đi 10 chiếc chỉ còn sót lại 1 chiếc, có đơn vị bộ đội đi xem chúng tôi biểu diễn về giữa đường trúng bom hy sinh. Chính chúng tôi nghe tiếng bom lại chạy đến để rồi tham gia cấp cứu cùng các y tá, người chết rồi thì quấn xác vào tăng và chôn cất họ. Có những điểm chốt bị bỏ bom gần như liên tục, lên đến nơi, giao liên nói vừa qua đợt bom, ai muốn lên hầm thì lên một lúc rồi lại phải xuống hầm ngay. Vùi chiến sĩ hy sinh vào lèn đá, chúng tôi không ai kìm nổi nước mắt. Nhưng tinh thần thời chiến phải khác, chúng tôi lên để phục vụ người sống chứ không phải khóc người chết, sau thì quen dần đi, không ai khóc nổi nữa. Chiến tranh, bom đạn, những mất mát, hy sinh cũng là lẽ thường tình mà! Mọi người lấy lại tinh thần để hát, biểu diễn cho các anh vơi đi nỗi nhọc nhằn, tiếp tục tiến lên, chiến đấu vì độc lập, tự do, thống nhất đất nước.
Thanh Vân sôi nổi kể: Cái chết rất cận kề nhưng chúng tôi hình như không ai nghĩ đến nó mà chỉ nghĩ hát làm sao cho xao động lòng người. Lúc ấy tôi chưa biết yêu một người con trai là thế nào nên tôi yêu tất cả các anh bộ đội Trường Sơn, xem các anh như người thân yêu của mình vậy. Sự đợi chờ hay nỗi nhớ nhung của người thương ở hậu phương với các anh tôi thấy có trong mình. Đó là những tình cảm mạnh mẽ, khỏe khoắn lắm, thúc giục người ta tiến bước với niềm tin chiến thắng mãnh liệt. Đó, tôi đã hát như thế, hát với tất cả lòng mình. Nghĩ lại, tôi thấy hồi ấy mình hát hay hơn giai đoạn sau này, phải chăng là vì thế!
Không chỉ hát, họ còn múa, chơi nhạc và diễn kịch nữa. Diễn mọi lúc, mọi nơi có thể. Diễn trên điểm cao, diễn dưới hầm sâu, người chiến sĩ và văn công ngồi rất gần nhau như thể cùng hát cho nhau nghe. Diễn khi các đoàn quân cứ đi, người hát đứng bên đường cứ hát, chiến sĩ đi qua vẫy chào rồi đi, hết đợt nọ đến đợt kia. Văn công thời chiến có sức lay động mạnh mẽ vô cùng! Có những trạm thương binh, chiến sĩ bị mất đôi bàn tay khi xem biểu diễn xong lại lấy hai cùi tay đập đập vào nhau để cổ vũ. Có những đơn vị bộ đội chia nhau ra để đi xem. Họ phải đi hàng chục cây số, xem mấy chục phút văn nghệ rồi lại quay về nơi đóng quân ngay trong đêm...
40 năm và nguyện vọng của các nghệ sĩ
40 năm đã trôi qua kể từ sau chuyến đi năm ấy. 16 người trong đoàn cũng thất tán nhiều nơi, Quảng Ninh, Hải Phòng nhưng có người ở mãi Quảng Bình, TP Hồ Chí Minh v.v... Nhìn lại nhau, họ ngậm ngùi vì đồng đội năm xưa tuổi chưa nhiều mà nay 6 người đã mất vì các bệnh hiểm nghèo liên quan đến gan và phổi, một số người nay đang mang bệnh trong mình. Như NSƯT Hồ Tháp đã phải đi mổ u não lần thứ 2, NSƯT Trọng Thịnh bị bệnh teo não nay gần như bị liệt phải nằm một chỗ, Hà Vân khắp người nổi những u cục, Thúy Cầm bị ung thư đại tràng, Thanh Vân phải nghỉ mất sức từ năm 1996, bị tiểu đường tuýp 2... Vậy, nhưng chưa ai trong số họ được hưởng một chế độ, chính sách gì dành cho người từng tham gia kháng chiến.
Tâm sự, thổ lộ nguyện vọng của mình, bà Trịnh Thúy Cầm xót xa: Chúng tôi thấy mình như bị bỏ quên vậy! Thời gian đi phục vụ chiến trường của đội văn công xung kích chúng tôi không hề được lưu vào hồ sơ lý lịch của bất cứ ai. Đến nay các ngành, đơn vị liên quan cũng không còn loại giấy tờ nào xác nhận việc đi và về của các thành viên trong đội. Hơn nữa, mấy chục năm đã trôi qua mà chúng tôi chưa từng được cơ quan, đoàn thể nào tổ chức để anh chị em gặp mặt nhau, ôn lại những kỷ niệm chiến trường ngày xưa...