Lạm phát tăng trưởng, vẫn là một nỗi lo

Năm 2007 là một năm mà Việt Nam đạt nhiều kỷ lục. Đầu tư trực tiếp của nước ngoài - FDI - đạt tới con số hơn 15 tỉ USD. Kim ngạch xuất nhập khẩu vượt ngưỡng 100 tỉ USD, trong đó xuất khẩu 48 tỉ USD. Dự trữ ngoại tệ quốc gia cũng đạt đến một con số kỷ lục 20 tỉ USD.Tốc độ tăng trưởng kinh tế của năm 2007 được dự báo ở mức 8,5% cũng là một kỷ lục trong nhiều năm.

Cùng với những thành tích vừa kể, còn có một kỷ lục của sự gia tăng chỉ số CPI. Lạm phát năm 2007 sẽ lên đến hai con số. Đó gần như không phải chỉ là dự đoán mà chắc chắn sẽ trở thành một thực tế. Vào cuối tháng 11 chỉ số giá tiêu dùng CPI đã bước đến mức tăng 9,45% so với năm 2006 và nếu trong tháng 12, tháng thường xuyên có mức tăng giá cao vì những mua sắm cho những ngày lễ tết vào cuối năm cũ và đầu năm mới, chỉ số CPI chỉ tăng bằng mức tăng giá bình quân của cả năm 2007 (0,85%) - một điều không dễ vì tác động đột biến của việc tăng giá xăng dầu vào cuối tháng 11 - lạm phát năm 2007 sẽ vượt ngưỡng 10%/năm, một kỷ lục khác của nền kinh tế Việt Nam trong thập niên đầu tiên của thế kỷ XXI.

Nhiều người lo ngại khi thấy tốc độ lạm phát cao hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế, tuy rằng như nhiều nhà kinh tế đã chỉ rõ, không hề có một cơ sở khoa học nào chứng minh rằng lạm phát phải thấp hơn tăng trưởng thì mới có tăng trưởng thực, đơn giản vì hai đại lượng này được đo bởi các đơn vị đo lường khác nhau. Mọi người chúng ta đều biết, và đều mong ước rằng ổn định giá cả và duy trì một tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và bền vững là hai mục tiêu quan trọng hàng đầu cần phải đạt được trong chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương một nước, nhưng thực tế chỉ ra rằng hầu hết các nước đang phát triển đều phải chấp nhận một sự đánh đổi nhất định giữa ổn định giá cả và tăng trưởng kinh tế.

Tại các nước này, tăng trưởng và lạm phát thường đi đôi với nhau như hình với bóng, chỉ khác là có khi hình (tăng trưởng) to hơn bóng (lạm phát) và có khi bóng to hơn hình. Nền kinh tế nào ít có những tắc nghẽn kiểu cổ chai, có hạ tầng cơ sở vật chất tốt (giao thông, điện, nước, giáo dục và y tế...), có sự phối hợp hài hòa và đồng bộ của chính sách tiền tệ và chính sách ngân sách, có một bộ máy hành chính năng động, hiệu quả, có một cơ chế thị trường thông thoáng, đảm bảo sự cạnh tranh lành mạnh, có một hệ thống tín dụng ngân hàng phủ sóng thanh toán rộng rãi, hoạt động tốt, minh bạch và hiệu quả, có đầu tư từ các nguồn vốn trong và ngoài nước đạt hiệu quả cao trên GDP được thể hiện bằng hệ số ICOR thấp… thì hình sẽ to hơn bóng, và ngược lại.

Ngoài ra, nền kinh tế còn bị tác động tăng giá từ những yếu tố mà chúng ta tạm gọi là khách quan (vì chúng ta không chủ động kiểm soát được, hoặc vì đó là hệ quả tất nhiên của tăng trưởng), những yếu tố này có tác động nhất định đến việc phình to của bóng. Tình hình năng lượng trên toàn cầu đang đi vào một cuộc khủng hoảng kéo dài. Hai nền kinh tế đang trên đà tăng trưởng mạnh nhất toàn hành tinh là Trung Quốc và Ấn Độ đang lâm vào cơn khát năng lượng nghiêm trọng và làm lệch cán cân năng lượng toàn thế giới trong khi Mỹ vẫn tiếp tục duy trì chính sách “bảo toàn năng lượng”. Giá dầu tăng cao có lúc chạm ngưỡng 100 USD/thùng là yếu tố gây nên một đợt triều cường giá cả kéo dài, nhiều nước đành phải chấp nhận bãi bỏ chính sách bao cấp giá xăng dầu, ngay cả Venezuela.

Cùng với dầu là vàng. Giá vàng lên đến 1.000 USD một lượng đã tác động không nhỏ đến giá cả các mặt hàng khác. Mặt khác, nhóm hàng thực phẩm năm 2007 trên thị trường quốc tế tăng giá mạnh một phần do yêu cầu chất lượng ngày càng cao của người tiêu dùng toàn hành tinh và phần khác do ảnh hưởng của các đợt dịch bệnh lan rộng trên đàn gia súc, từ bệnh cúm gà đến bệnh lở mồm long móng, bệnh bò điên cho đến bệnh heo tai xanh…

Năm 2007, xuất khẩu của nước ta tăng mạnh (tăng trên 20% so với năm 2006) khiến nền kinh tế nội địa mất đi một lượng hàng hóa lớn và nhận về một khối lượng tiền lớn, tạo một áp lực tăng giá mạnh. Thêm vào đó, việc neo tỷ giá đồng Việt Nam vào USD trong khi USD liên tục mất giá là một yếu tố thuận lợi cho xuất khẩu nhưng cũng đã khiến cho giá cả nhiều loại hàng hóa tăng lên trong mối tương quan so sánh với đồng Việt Nam. Năm 2007, đầu tư trong nước tăng nhanh, đầu tư từ FDI có khả năng giải ngân trong năm đạt 6 tỉ USD, đầu tư của khu vực kinh tế tư nhân đạt 118 ngàn tỉ đồng (7,4 tỉ USD), tăng 78,5%, đầu tư của doanh nghiệp nhà nước lên đến 44 ngàn tỉ đồng (gần 3 tỉ USD), tăng 72%, chưa kể các khoản đầu tư xây dựng hạ tầng từ ngân sách Nhà nước và vốn vay ODA lên đến trên 80 ngàn tỉ đồng (5 tỉ USD). Việc gia tăng đầu tư khiến cho giá cả các yếu tố đầu vào như lao động, nguyên vật liệu, tiền vốn... đều gia tăng, một lượng tiền lớn được tung vào nền kinh tế trong khi phải chờ đến một thời gian sau sản phẩm mới được sản xuất, dịch vụ mới được cung ứng cho người tiêu dùng.

 Điều này chứng minh rằng, ngoài những yếu tố tăng giá khách quan, riêng những nỗ lực đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng (khuyến khích đầu tư, đẩy mạnh xuất khẩu, hoàn thiện cơ sở hạ tầng…) cũng là những nỗ lực dẫn đến lạm phát. Nhưng đó là loại lạm phát lành mạnh, lạm phát tăng trưởng. Như vậy, có vẻ như một nền kinh tế ở giai đoạn đầu của phát triển như nền kinh tế Việt Nam cần phải biết cách “sống chung” với lạm phát, giống như nông dân đồng bằng sông Cửu Long phải sống chung với lũ. Tuy nhiên, nếu lạm phát tăng mạnh và có xu hướng vượt khỏi tầm kiểm soát của các nhà lãnh đạo tiền tệ và và gây áp lực lên đời sống của người lao động có thu nhập thấp, đó là dấu hiệu cho thấy nền kinh tế có những vấn đề nghiêm trọng về cơ cấu và về quản lý, cần có những điều chỉnh phù hợp.

 Cần phải loại bỏ những yếu tố tăng giá do các yếu kém trong quản lý. Chẳng hạn, giá thuốc tăng vì tình trạng quản lý kém trong khâu phân phối dược phẩm. Việc tăng giá học phí (một quyết định hành chính) không chỉ làm cho áp lực lạm phát đang xảy ra đè nặng hơn lên vai tầng lớp lao động có thu nhập thấp mà còn làm cho viễn ảnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên tiến trình tăng trưởng bị mờ nhạt lâu dài. Các biện pháp giảm thuế nhập khẩu - như một biện pháp giảm lạm phát - trên thực tế không làm giá cả giảm vì phương pháp tính thuế và áp giá tính thuế thay đổi theo chiều hướng tăng lên, điển hình là thuế nhập khẩu ôtô nguyên chiếc.

Những đầu tư cho các công trình không hiệu quả, không thu hồi được vốn, hư hỏng và dở dang là nguyên nhân làm cho hệ số ICOR tăng lên và trực tiếp gây ra tình trạng tăng giá khó kiểm soát. Trong khi đó, nạn tham nhũng vẫn hoành hành và việc cải cách bộ máy hành chính chưa thành công như mong đợi khiến cho chi phí sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp tăng cao, tác động đến giá hàng hóa đồng thời cũng làm cho gánh nặng chi phí mà cá nhân và các hộ gia đình Việt Nam phải bỏ ra để hưởng dụng các sản phẩm và dịch vụ công tăng lên trong khi chất lượng giảm đi. Một nền kinh tế dùng tiền mặt không có chỗ cho việc áp dụng thành công các phương tiện tài chính (financial instruments) để thu hút tiền về, khiến cho một việc làm chính đáng của Ngân hàng Nhà nước như tung tiền đồng ra mua ngoại tệ của các ngân hàng thương mại cũng bị chỉ trích là không phù hợp và bị xem là một nguyên nhân chính đưa đến lạm phát.

Lạm phát tăng trưởng giống như cơn sốt mọc răng của một đứa trẻ hay tình trạng tăng nhiệt độ cơ thể của một vận động viên chạy marathon. Nó không giống như lạm phát trì trệ, một dạng lạm phát xảy ra khi nền kinh tế suy thoái và đồng tiền mất giá nghiêm trọng. Nhưng lạm phát tăng trưởng cũng có những hệ quả đáng lo của nó, nhất là khi cái bóng của nó trở nên quá to. Lạm phát, dù nó là lạm phát tăng trưởng, cũng là tước của người nghèo để tặng cho người giàu. Ngay cả khi số liệu thống kê chứng minh rằng chỉ số tăng giá CPI ở thành thị cao hơn ở nông thôn (9,745% so với 8,92%), những người nghèo, người có thu nhập thấp, thu nhập cố định, vẫn bị thiệt đơn, thiệt kép. Trong lạm phát, người có tài sản, của cải (nhà cửa, đất đai, vàng) không bị nghèo đi mà có thể còn giàu thêm, nếu tài sản đó tăng giá cao hơn chỉ số lạm phát. Trái lại, người nghèo, người có thu nhập thấp cảm thấy nghèo đi nhiều hơn và nhanh hơn, những thụ hưởng vật chất và tinh thần giảm đi, ăn ít chất đạm hơn, uống thuốc trị bệnh ít hơn và giải trí ít hơn…

Những gì họ đang có (một số tiết kiệm ít ỏi bằng tiền) đang mất dần, còn những gì mơ ước sẽ có được thì ngày càng xa vời (cái nhà, chiếc xe, con cái được học hành, khi mang bệnh có tiền chữa bệnh). Vấn đề đáng lo trong lạm phát tăng trưởng là nó vẫn làm gia tăng nhanh chóng khoảng cách giàu nghèo giữa thành thị, nông thôn và giữa các tầng lớp thu nhập. Điều này sẽ tạo ra bất ổn xã hội và hệ quả là tốc độ tăng trưởng kinh tế sẽ chậm lại. Bên cạnh giải pháp điều chỉnh lương theo chỉ số lạm phát, một giải pháp cần nhưng chưa đủ, giải pháp tốt nhất cho vấn đề này là Nhà nước cần xây dựng sớm và xây dựng thành công một hệ thống an sinh phúc lợi xã hội rộng rãi, tấm lưới an toàn cho những người thất nghiệp, người già yếu, người cơ nhỡ, kém may mắn. Bên cạnh đó là một hệ thống giáo dục và y tế miễn phí cho người nghèo, giúp họ được chăm lo sức khỏe tốt, được tiếp thu kiến thức cơ bản miễn phí để họ có được cơ hội xây dựng cho mình một tương lai tốt đẹp hơn, trong những đợt triều cường của lạm phát tăng trưởng.

Được như thế, lạm phát mới thật là không đáng lo…

Cùng chuyên mục