“Làng mỏ” Mông Dương

Ở Mông Dương trước đây vốn chủ yếu chỉ có thợ mỏ sinh sống. Song theo thời gian, nhiều gia đình thợ mỏ đã chuyển nơi ở. Thế nhưng, ở tổ 222 và 223 (khu 12, phường Mông Dương, TX Cẩm Phả) hiện nay vẫn có 100% gia đình đều là thợ mỏ qua các thế hệ sinh sống.

Nghề thợ mỏ ở đây vốn vẫn được nói vui là nghề ''cha truyền con nối'' và hầu như ở gia đình nào cũng có 2 đời làm nghề này. Ai cũng nói nghề thợ mỏ là vất vả, song chẳng vì thế mà họ bỏ nghề. ''Làng mỏ'' cũng vì thế mà tồn tại đến bây giờ như một minh chứng rõ nét nhất...

“Làng mỏ” Mông Dương ảnh 1
Cầu trọng tải 5 tấn mới được nâng cấp tạo điều kiện cho người dân trong "làng mỏ" đi lại thuận tiện hơn.

Làng mỏ qua hồi ức của một Anh hùng Lao động

Theo lời giới thiệu của trưởng khu 12, phường Mông Dương, chúng tôi may mắn gặp được Anh hùng Lao động Hà Văn Hồng. Ông Hồng vốn cũng là thợ mỏ từ những năm 1975. ở cái tuổi gần 70 song ông Hồng vẫn giữ được vẻ rắn rỏi, tinh anh của người thợ mỏ. Khi biết chúng tôi có ý định tìm hiểu về đời sống người thợ mỏ trước đây, ông Hồng nhớ lại, nét mặt bùi ngùi. Ông kể, tổ 222 và 223 phường Mông Dương bây giờ chính là làng mỏ ngày xưa của những người thợ như ông. Làng được ''thành lập'' từ cuối năm 1985 với 44 hộ dân, nhân khẩu trên 200 người, đều là cán bộ, công nhân của Xí nghiệp xây lắp mỏ Mông Dương (nay là Công ty Xây dựng hầm lò 1 - TKV). Do anh em thợ mỏ đều quê ở xa, điều kiện ăn ở chưa có nên ban lãnh đạo Xí nghiệp đã tạo điều kiện phân đất, rồi lại bán nguyên liệu với giá rẻ để thợ mỏ xây nhà. Ngày ấy, anh em thợ mỏ vất vả, nguy hiểm lắm. Đường vào nhà thì quanh co, trơn trượt cũng chẳng có điện đóm gì. Đi làm thì hầu như không có phương tiện chuyên chở mà phải đi bộ từ nhà đến các mỏ, quãng đường cũng vài cây số là ít. Chỉ có anh em phải lên các mỏ xa, không thể đi bộ được mới được đi xe. Xe chở là xe gấu chở vật liệu được cải hoán có mái che để chở thợ mỏ. Mỗi lúc chở công nhân là xe lại ken 70-80 thợ, chỉ đứng chứ không nhúc nhích được.

Ông Hồng nhớ lại, những ngày mùa đông, trời rét cắt da cắt thịt nhưng anh em thợ mỏ từ dưới lò đi lên thì quần áo ướt sũng mồ hôi. Gặp trời lạnh, ai nấy đều tím tái vì rét. Rồi còn những hiểm nguy trong nghề nữa. Ngày ấy chúng tôi có câu ''thứ nhất thợ lò, thứ nhì bò tót'' để nói vui với nhau về nỗi vất vả, hiểm nguy của nghề. Lúc đó làm gì có bảo hộ an toàn cao như bây giờ. Mỗi lần vào lò là một lần đấu tranh, cố gắng làm sao vừa hoàn thành nhiệm vụ lại vừa phải bảo vệ an toàn cho mình và anh em nữa chứ. Có trường hợp, cả tổ đội 6-8 người mà chỉ sau một ca đã hy sinh quá nửa. Khó khăn vất vả là thế nhưng ai cũng yêu đời, say nghề mới lạ. Ai cũng làm việc hăng say chẳng quản ngày đêm. Ông Hồng bảo, còn nhớ phần thưởng cho mỗi mét lò đào vượt kế hoạch ngày ấy là... một tô phở. Nói ra bây giờ có nhiều người cười lắm, nhưng lúc đó, ai cũng muốn một lần được ăn tô phở ấy. Không phải vì đói mà vì niềm tự hào của thợ lò, là công sức của anh em đã đơm hoa kết trái. Niềm vui giản dị ấy thôi nhưng suốt 20 năm qua tôi vẫn nhớ như in và đôi khi kể lại cho con cháu, những thế hệ thợ mỏ sau này...

Khi chúng tôi thắc mắc, tại sao vất vả khó khăn như vậy mà trong làng hầu như chẳng ai bỏ nghề, ông Hồng suy tư: Chắc cũng là do hoàn cảnh lịch sử nữa, lúc đấy cả đất nước đều sôi sục chứ riêng gì ai. Mình nhiều khi nhìn thấy nghề sao thấy vất vả, nguy hiểm quá thì cũng lo lắm chứ. Nhưng nghĩ thế thôi chứ lúc nào cũng muốn gắn bó với nghề thợ mỏ. Vì cái gì chẳng rõ, chỉ biết đến giờ vẫn ham lắm...

Và những đổi thay...

Những khó khăn, vất vả một thời theo hồi tưởng của người thợ mỏ già ở làng thợ mỏ Mông Dương ngày ấy nay đã lùi xa và thay vào đó là diện mạo mới. Đến làng mỏ bây giờ, không còn những ngôi nhà lụp xụp chỉ cần che nắng che mưa mà đã xuất hiện những ngôi nhà khang trang, to đẹp. Làng mỏ xưa nay đã đổi tên thành tổ. Con đường đi vào làng cũng chẳng còn quanh co, lắt léo như trước mà đã được bê tông hoá; lối vào làng đã có chiếc cầu chắc chắn bắc qua sông Mông Dương... Để bà con đi lại thuận tiện hơn, vừa qua, tỉnh đã đồng ý cấp kinh phí mở rộng đường cho người dân. Con đường mới với bề rộng trên 10m, hai bên vỉa hè rộng chừng 5m có bố trí cây xanh, đường điện... Dự kiến trong năm 2010, con đường sẽ hoàn thành. Cùng với những đổi thay của làng, còn có sự đổi thay trong chính mỗi gia đình thợ mỏ. Con em thợ mỏ bây giờ đã có điều kiện được học hành đầy đủ hơn, tỷ lệ đỗ các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp hàng năm luôn ở mức cao. Các gia đình ở đây vẫn giữ được truyền thống thợ mỏ như một nghề ''cha truyền con nối'', có gia đình có 3 người con thì cả 3 hiện nay đều công tác trong ngành than. Duy chỉ có một điều mà theo cảm nhận riêng của chúng tôi vẫn không thay đổi ở làng thợ mỏ này chính là tấm lòng người thợ. Dù ở thời nào cũng vẫn chan chứa nghĩa tình đúng như chia sẻ của ông Lại Văn Tạo, trưởng khu 12, phường Mông Dương: Tuy làng mỏ đã lên tổ từ lâu nhưng gốc rễ vẫn là làng mỏ ngày xưa với từng ấy hộ dân không thay đổi, tình làng nghĩa xóm qua nhiều năm càng thêm gắn bó. Xưa anh em chúng tôi cùng nhau chia sẻ những khó khăn, hiểm nguy trong lao động thì nay tuy tuổi đã cao chúng tôi vẫn quan tâm, chia sẻ cho nhau vui buồn trong đời sống. Hàng tháng tại các tổ đều tổ chức sinh hoạt văn hoá, văn nghệ vui tươi, bổ ích; hoặc cùng nhau bàn bạc, giúp đỡ các gia đình khó khăn... Có lẽ vì vậy, tình làng nghĩa xóm thêm phần gắn kết, hiếm khi thấy các gia đình có va chạm, xích mích. Hầu hết các gia đình đều đạt danh hiệu gia đình văn hoá trong nhiều năm.

Chia tay làng mỏ Mông Dương, chúng tôi mừng cho những đổi thay mới của người thợ hôm nay trên mảnh đất lịch sử ngành Than. Trong tâm tưởng vang lên câu nói của Anh hùng Lao động Hà Văn Hồng: Dù là thời nào thì cũng cần có quyết tâm và nỗ lực. Xưa cha anh đã chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc thì nay con cháu chúng tôi cũng đang cố gắng phấn đấu, rèn luyện nhiều hơn để làm giàu cho quê hương, đất nước...

Cùng chuyên mục